Lăng Tự Đức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua thi sĩ Tự Đức đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ mà ở đó quanh năm có suối chảy, thông reo, chim muông ca hát. Yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét.
Ở đây, sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng, diễm lệ. Trong cái quyến rũ của mây nước, của hương hoa đó, người ta như quên đi rằng nơi đây là lăng tẩm của một người quá cố, mà ngỡ là thiên đường của cỏ cây, của thi ca và mộng tưởng... Trong số 50 công trình kiến trúc của lăng Tự Đức, có một công trình đặc biệt mà không một khu lăng tẩm nào có được, đó là nhà hát cổ Minh Khiêm Đường.
Minh Khiêm Đường là nhà hát cổ nhất trong 4 nhà hát được xây dựng thời các Vua nhà Nguyễn. Cùng với các công trình kiến trúc khác trong lăng, Minh Khiêm Đường hiện vẫn còn giữ gìn được kiến trúc ban đầu của mình. Nhà hát được xây dựng vào năm 1865 với lối trang trí, chạm trổ tuyệt đẹp. Trước khi Vua Tự Đức băng hà, khu lăng tẩm này là một hành cung mùa hè để Vua nghỉ ngơi, làm thơ, ngắm cảnh. Nhà hát Minh Khiêm Đường là nơi nhà Vua nghe tấu nhạc, diễn tuồng. Chính vì thế mà bây giờ chúng ta vẫn có thể cảm nhận một sự ấm áp, gần gũi và hữu ích đúng nghĩa của một nhà hát, bởi vì, công trình này tuy được làm cho người chết nhưng đã từng phục vụ cho người sống.
Nhà hát Minh Khiêm Đường là một căn nhà ba gian hai chái, được làm bằng gỗ theo kiến trúc truyền thống Huế. Là công trình dành cho Vua nên phần trang trí gỗ ở đây cũng hết sức tinh xảo. Cho đến bây giờ vẫn nhận thấy rõ những mô típ hoa văn được chạm trổ ở đây, đó là những mô tip trang trí cung đình như rồng, hoa lá...Tất cả đều hoà quyện tạo nên một không gian vừa trang nghiêm, vừa đầy chất nghệ thuật.
Sân khấu là phần sàn nhà nằm giữa bốn gian, khi diễn thì trải chiếu hoa lên sân khấu. Có một điều thật đặc biệt cho thấy sự mơ mộng , bay bổng tâm hồn của người xưa trong cách thiết trần nhà. Trần nhà hát được trang trí hình ảnh các vì tinh tú, những đám mây ngũ sắc, vầng trăng khuyết, nền trời xanh rất đẹp, tạo cho người diễn cũng như người xem cảm giác như đang ở ngoài trời, giữa cuộc đời . Chính vì thế, ngôi nhà này là một minh chứng phản ánh về chủ nhân của nó: một con người có tư chất hâm mộ nghệ thuật, một tâm hồn lãng mạn trữ tình.
Bên trong điện Hòa Khiêm, nơi thờ Vua và hoàng hậu
Những tiếng đàn, tiếng hát đã vắng lặng ở đây từ khi Vua băng hà. Với những nỗ lực của mình trong việc trùng tu, giữ gìn về kiến trúc, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã cố gắng tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống cung đình Huế tại Minh Khiêm Đường, một năm sau khi nhà hát Duyệt thị Đường ở Đại Nội sáng đèn trở lại. Những nhà hát cổ của Huế đã sáng đèn, sống lại một không gian xưa với tiếng đàn, tiếng hát, với những giá trị tuyệt vời của âm nhạc truyền thống Huế.
Một trong những bức tranh treo bên trong điện Hòa Khiêm
Để giữ gìn sự nghiêm trang cho nhà hát Minh Khiêm Đường và để cho mọi du khách đều có thể nhìn ngắm nhà hát cổ xưa nhất của Huế , Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đã chuyển vị trí biểu diễn âm nhạc truyền thống Huế về Xung Khiêm Tạ - một công trình kiến trúc thơ mộng trên hồ Lưu Khiêm. Trong không gian thoáng mát, phong cảnh nên thơ, tiếng đàn tiếng hát của các nghệ sĩ, ca sĩ thuộc Nhà hát nghệ thuật truyền thống cung đình Huế đã đem đến cho du khách những giây phút tuyệt vời, hoà mình cùng thiên nhiên trong lời ca, tiếng đàn. Thưởng thức âm nhạc Huế trên sông Hương có thú vị riêng và trong không gian này cũng có một nét đặc biệt riêng.
Tuesday, June 9, 2015
Friday, May 8, 2015
Gương ước hồ Truồi
Giữa vùng đất mênh mang, trù phú, nhiều làng mạc trải rộng hai bên bờ con sông lớn nhất phía nam Thừa Thiên - Huế, nổi lên hồ nước kỳ thú “treo” trên núi với mây trời in bóng nước lung linh như dát vàng, dát bạc. Thu về, hãy một lần đặt chân đến hồ Truồi để thỏa sức ngắm khung cảnh hữu tình, thơ mộng và tận hưởng bầu không khí thiên nhiên trong lành.
Trong số những cái tên như núi Truồi, sông Truồi, làng Truồi, dâu Truồi và hồ Truồi… hợp nên “xứ” Truồi nổi tiếng của huyện Phú Lộc thì hồ Truồi là địa danh xuất hiện muộn hơn cả. Đây là công trình thủy lợi lớn nhất ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, được xây dựng vào năm 1996, có đập tràn cao đến 50m. Dung tích lòng hồ chứa 60 triệu m3 nước, làm nguồn nước tưới cho các xã đồng bằng của huyện Phú Lộc và Hương Thủy. Quang cảnh nơi đây hùng vĩ, hoang sơ, núi ôm núi chập chùng nối dài từ dãy Bạch Mã. Phía đầu nguồn hồ Truồi là một ngọn núi cao mang hình chiếc ấn đóng xuống mặt đất, lại vừa giống như một kim tự tháp khổng lồ.
Khung cảnh kỳ thú của hồ Truồi là hấp lực lôi cuốn nhiều du khách đến khám phá, du ngoạn. Đến bến đò ở gần chân đập tràn, du khách có thể chọn cho mình bất cứ chiếc đò nào vừa với số người trong đoàn, mỗi chiếc đò thường chở từ 15 – 20 người, do những người dân địa phương cầm lái. Đôi khi những người lái đò nhận lời kiêm thêm việc của “hướng dẫn viên du lịch” cho khách.
Có tất cả bốn con suối đổ vào hồ Truồi là suối Hợp Hai, Vũng Thông, Ông Viên và Ba Trại, mỗi suối đều có những vẻ đẹp khác nhau. Quanh hồ, núi non trùng điệp kéo dài từ dãy Bạch Mã, ôm trọn lòng hồ rộng lớn. Nước hồ trong xanh và mát dịu tạo cảm giác rất dễ chịu. Khi đò rời bến khoảng 30 phút, du khách bắt đầu nghe tiếng suối chảy róc rách. Chuyến du ngoạn diễn ra trên mặt hồ rộng lớn, xuyên qua bóng mát của dãy núi trùng điệp rợp cây xanh bao quanh, ngọn mờ ngọn tỏ soi mình xuống nước.
Sau những giây phút lênh đênh trên sông nước mênh mông, bạn sẽ được ru bởi bản hòa tấu thiên nhiên hợp nên từ tiếng suối róc rách, tiếng chim rừng vang vọng. Rẽ ngang sang khu rừng nguyên sinh hoang vắng tại chân núi Thanh Long, du khách tiếp tục tiến về bãi đá phẳng lì của dòng suối nhỏ, nơi thích hợp sinh hoạt dã ngoại. Tại đây, bạn cũng có thể tắm suối, đi bộ theo các bãi đá để khám phá những nét đẹp của thiên nhiên hoang sơ. Và đừng quên đắm mình trong dòng suối trong xanh, mát lành.
Chuyến đi sẽ thú vị hơn nếu bạn chuẩn bị sẵn một ít thức ăn để ở lại qua buổi trưa. Để gia tăng hương vị núi rừng, bạn có thể tự mình bắt cá tại ngay con suối này. Ở đây, chủ yếu là các loại cá xanh, cá hồng, cá vược, cá đối… Cá tươi rói vừa bắt từ suối lên, lớn thì cỡ hai ngón tay, nhỏ thì cỡ ngón út, con nào con nấy đều săn chắc, nướng lên trong lửa than hồng ngọt, lại thưởng thức giữa khung cảnh thiên nhiên hoang dã, thử hỏi thú nào sánh bằng!
Nhưng xứ Truồi không chỉ có hồ Truồi. Trên đường trở lại bến đò, du khách có thể tạt vào viếng thăm Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã tọa lạc ngay dưới chân ngọn núi Linh Sơn để lắng lòng trong cảnh thanh tịnh chốn thiền môn. Đây là một tuyệt phẩm kiến trúc hội tụ phong thủy tuyệt vời giữa núi và hồ. Thuộc dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử khởi nguyên từ đời Trần, Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã được khởi công xây dựng vào cuối tháng 3/2006. Các công trình như chánh điện, phương trượng, tăng đường, thiền đường, trai đường, lầu chuông, tháp xá lợi, tổ đường… nằm trên sườn đồi giữa hồ Truồi thơ mộng với tổng diện tích 1,9ha.

Từ trên đỉnh đồi chùa Trúc Lâm phóng tầm mắt nhìn xuống hồ Truồi bao la mát rượi như xua tan đi bao cực nhọc trong cỏi lòng
Bước chân lên 172 bậc tam cấp, đứng trước tam quan thiền viện, bạn sẽ quan sát một cách đầy đủ về hồ Truồi và khung cảnh kỳ vĩ bao quanh nó. Ngược lại, từ bên này hồ Truồi nhìn sang là toàn cảnh Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã đẹp như một bức tranh thủy mặc.
Thiền viện Trúc Lâm ẩn hiện giữa mênh mang trời nước

Thông tin thêm:
+ Hồ Truồi thuộc xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ thành phố Huế đi gần 30km về phía nam theo quốc lộ 1A, rồi theo con đường làng râm mát bóng cây, đi thêm 10km nữa, du khách sẽ đến hồ nhân tạo đẹp nổi tiếng này.
+ Chỉ mất 200.000 đồng/chuyến cho một chiếc thuyền chở khoảng 15 khách, bạn sẽ được lái thuyền phục vụ suốt cả chuyến tham quan quanh hồ.
+ Xứ Truồi có loại trái cây đặc sản nức tiếng trong Nam ngoài Bắc là dâu Truồi – hương vị ngọt ngào, thơm ngon và mát lành. Nếu đã đến đây, bạn nên ghé nhà vườn địa phương để mua về làm quà.
Trong số những cái tên như núi Truồi, sông Truồi, làng Truồi, dâu Truồi và hồ Truồi… hợp nên “xứ” Truồi nổi tiếng của huyện Phú Lộc thì hồ Truồi là địa danh xuất hiện muộn hơn cả. Đây là công trình thủy lợi lớn nhất ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, được xây dựng vào năm 1996, có đập tràn cao đến 50m. Dung tích lòng hồ chứa 60 triệu m3 nước, làm nguồn nước tưới cho các xã đồng bằng của huyện Phú Lộc và Hương Thủy. Quang cảnh nơi đây hùng vĩ, hoang sơ, núi ôm núi chập chùng nối dài từ dãy Bạch Mã. Phía đầu nguồn hồ Truồi là một ngọn núi cao mang hình chiếc ấn đóng xuống mặt đất, lại vừa giống như một kim tự tháp khổng lồ.
Khung cảnh kỳ thú của hồ Truồi là hấp lực lôi cuốn nhiều du khách đến khám phá, du ngoạn. Đến bến đò ở gần chân đập tràn, du khách có thể chọn cho mình bất cứ chiếc đò nào vừa với số người trong đoàn, mỗi chiếc đò thường chở từ 15 – 20 người, do những người dân địa phương cầm lái. Đôi khi những người lái đò nhận lời kiêm thêm việc của “hướng dẫn viên du lịch” cho khách.
Có tất cả bốn con suối đổ vào hồ Truồi là suối Hợp Hai, Vũng Thông, Ông Viên và Ba Trại, mỗi suối đều có những vẻ đẹp khác nhau. Quanh hồ, núi non trùng điệp kéo dài từ dãy Bạch Mã, ôm trọn lòng hồ rộng lớn. Nước hồ trong xanh và mát dịu tạo cảm giác rất dễ chịu. Khi đò rời bến khoảng 30 phút, du khách bắt đầu nghe tiếng suối chảy róc rách. Chuyến du ngoạn diễn ra trên mặt hồ rộng lớn, xuyên qua bóng mát của dãy núi trùng điệp rợp cây xanh bao quanh, ngọn mờ ngọn tỏ soi mình xuống nước.
Sau những giây phút lênh đênh trên sông nước mênh mông, bạn sẽ được ru bởi bản hòa tấu thiên nhiên hợp nên từ tiếng suối róc rách, tiếng chim rừng vang vọng. Rẽ ngang sang khu rừng nguyên sinh hoang vắng tại chân núi Thanh Long, du khách tiếp tục tiến về bãi đá phẳng lì của dòng suối nhỏ, nơi thích hợp sinh hoạt dã ngoại. Tại đây, bạn cũng có thể tắm suối, đi bộ theo các bãi đá để khám phá những nét đẹp của thiên nhiên hoang sơ. Và đừng quên đắm mình trong dòng suối trong xanh, mát lành.
Chuyến đi sẽ thú vị hơn nếu bạn chuẩn bị sẵn một ít thức ăn để ở lại qua buổi trưa. Để gia tăng hương vị núi rừng, bạn có thể tự mình bắt cá tại ngay con suối này. Ở đây, chủ yếu là các loại cá xanh, cá hồng, cá vược, cá đối… Cá tươi rói vừa bắt từ suối lên, lớn thì cỡ hai ngón tay, nhỏ thì cỡ ngón út, con nào con nấy đều săn chắc, nướng lên trong lửa than hồng ngọt, lại thưởng thức giữa khung cảnh thiên nhiên hoang dã, thử hỏi thú nào sánh bằng!
Nhưng xứ Truồi không chỉ có hồ Truồi. Trên đường trở lại bến đò, du khách có thể tạt vào viếng thăm Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã tọa lạc ngay dưới chân ngọn núi Linh Sơn để lắng lòng trong cảnh thanh tịnh chốn thiền môn. Đây là một tuyệt phẩm kiến trúc hội tụ phong thủy tuyệt vời giữa núi và hồ. Thuộc dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử khởi nguyên từ đời Trần, Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã được khởi công xây dựng vào cuối tháng 3/2006. Các công trình như chánh điện, phương trượng, tăng đường, thiền đường, trai đường, lầu chuông, tháp xá lợi, tổ đường… nằm trên sườn đồi giữa hồ Truồi thơ mộng với tổng diện tích 1,9ha.
Từ trên đỉnh đồi chùa Trúc Lâm phóng tầm mắt nhìn xuống hồ Truồi bao la mát rượi như xua tan đi bao cực nhọc trong cỏi lòng
Bước chân lên 172 bậc tam cấp, đứng trước tam quan thiền viện, bạn sẽ quan sát một cách đầy đủ về hồ Truồi và khung cảnh kỳ vĩ bao quanh nó. Ngược lại, từ bên này hồ Truồi nhìn sang là toàn cảnh Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã đẹp như một bức tranh thủy mặc.
Thiền viện Trúc Lâm ẩn hiện giữa mênh mang trời nước
Thông tin thêm:
+ Hồ Truồi thuộc xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Từ thành phố Huế đi gần 30km về phía nam theo quốc lộ 1A, rồi theo con đường làng râm mát bóng cây, đi thêm 10km nữa, du khách sẽ đến hồ nhân tạo đẹp nổi tiếng này.
+ Chỉ mất 200.000 đồng/chuyến cho một chiếc thuyền chở khoảng 15 khách, bạn sẽ được lái thuyền phục vụ suốt cả chuyến tham quan quanh hồ.
+ Xứ Truồi có loại trái cây đặc sản nức tiếng trong Nam ngoài Bắc là dâu Truồi – hương vị ngọt ngào, thơm ngon và mát lành. Nếu đã đến đây, bạn nên ghé nhà vườn địa phương để mua về làm quà.
Wednesday, May 6, 2015
Nốt nhạc xanh trên bản đồ Festival Huế
Thủy Thanh nằm ở phía đông bắc của thị xã Hương Thủy - đô thị vệ tinh đầu tiên của Thừa Thiên-Huế. Đến Thủy Thanh lâu nay người ta vẫn thường xuất phát ở lối rẽ ở đường Bà Triệu, ngoằn ngoèo xa ngái trên con đường vừa xấu vừa nhiều bụi bặm. Nay có thêm lối khác là từ đường Tự Đức rẽ lên cầu vượt Thủy Dương rồi chạy thẳng. Hết con đường nhựa thênh thang sẽ gặp cánh đồng với con đường nhỏ thơ mộng bên phải dẫn thẳng xuống Cầu Ngói Thanh Toàn.
Lễ hội Festival tại Thủy Thanh diễn ra từ 8 đến 11-4-2012 sẽ có Lễ cung nghinh Trần Thị Đạo từ nhà thờ họ Trần đến Cầu Ngói. Và tại đó sẽ đồng loạt diễn ra rất nhiều các chương trình văn hóa, thể thao đầy hào khí. Trải qua 5 kỳ Festival, Thủy Thanh sẽ rút được nhiều kinh nghiệm cho một Lễ hội chợ quê hết sức đằm thắm và quyến rũ bên Cầu Ngói. Sản phẩm du lịch "về nguồn” này được kéo màn vào đầu tháng 4 năm 2001, với Đêm thơ Ai về Cầu Ngói, đã hút được lượng lớn văn nghệ sĩ của Huế cũng như hầu hết các câu lạc bộ thơ, đặc biệt nhất là sự tham gia một cách say sưa của những người dân ở vùng đất hò vè, ca dao tục ngữ. Từ đây một chương trình được lên kế hoạch đưa vào tour nhân các dịp Festival, ấy là Chợ quê ngày hội.
"Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích” Cầu Ngói Thanh Toàn được công nhận di tích Quốc gia từ năm 1990. Cầu do mệnh phụ phu nhân Trần Thị Đạo bỏ tiền ra dựng vào năm Cảnh Hương thứ 57 (1776). Trận lụt năm 1784, và trận bão năm 1904 đã đánh sập; qua hai đợt tu sửa vào các năm 1906, 1991 cầu mới có lại dáng vẻ thanh tao quyến rũ như ngày nay.
Bà Trần Thị Đạo vốn người làng Thanh Thủy Chánh xưa dưới triều Lê, Cầu Ngói được dựng bằng gỗ theo lối "thượng gia hạ kiều”. Mái gần với kiến trúc đình chùa làng, nên đặt ở một nơi rặt quê như Thủy Thanh là hiếm. Không gian thuần nông với khu chợ nhỏ. Thương người dân làm đồng về cực nhọc hai mùa đông hạ, bà đã bỏ tiền làm cây cầu này để người người có nơi nghỉ ngơi, cũng không còn phải lội bộ gồng gánh qua con sông cực khổ; được thể hiện qua câu đối "tế xuyên mâu bửu phiệt - Thanh thử thắng hồng lâu”. Ngồi trên Cầu Ngói mùa hè mỗi trưa nhìn ra cánh đồng trải nắng mênh mông, hoặc những đêm trăng vằng vặc soi xuyên qua thân cầu... khó tả hết nỗi niềm của người phố thị. Kiến trúc cầu cũng dành một bàn thờ ở gian giữa, nên cầu Ngói có thể ví là một cái đình thu nhỏ. Vua Lê năm 1776 có Tờ sắc vinh danh bà Trần Thị Đạo: "Cuộc sống của bà làm cho mọi người ngưỡng mộ đủ mọi điều. Bà là người đáng ca ngợi hơn ai hết. Bà làm cho làng được ban ơn huệ...”.
Xã Thủy Thanh hiện có thể xem là một trung tâm du lịch đặc sắc của thị xã Hương Thủy. Ngoài thương hiệu Cầu Ngói Thanh Toàn từ lâu vẫn hút được lượng khách khá lớn kể cả người nước ngoài, nơi đây còn nhiều những miếu mạo đình đài cổ chứa những câu chuyện về các vị khai canh, Thành hoàng làng đầy huyền bí; các di tích văn hóa lịch sử như đình làng Vân Thê, phủ thờ Tôn Thất Thuyết. Để nói rằng, việc khai thác sản phẩm du lịch nơi đây còn ít, chủ yếu phục vụ trong các dịp lễ hội, lại chưa đi đôi với bảo tồn. Ban quản lý đã nghiêm khắc hạn chế người dân mang đồ đạc quá trọng lượng cho phép qua cầu? Đã có công trình khảo sát mức độ xuống cấp của khung cầu và mái ngói trải qua một phần tư thế kỷ này? Và, dòng nước đã trong xanh để hàng ngày cây cầu tuyệt mỹ soi bóng? Từ đây cũng cần mở rộng tầm nhìn bảo vệ nguồn nước của lạch sông (từng được các vua triều Nguyễn chú trọng); không chỉ vì tỉ lệ người dân làm nông nghiệp cao (chiếm trên 70% diện tích tự nhiên như Thủy Thanh) mà quan trọng là giữ gìn môi trường sống, tạo cảnh quan sinh động, phong phú. Đó cũng là yêu cầu cơ bản của nếp sống văn hóa đô thị...
Thực hiện phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới của Thủ tướng Chính phủ, Thị ủy Hương Thủy xác định lấy Thủy Thanh là một trong ba xã điển hình cho "xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng nông thôn mới, gắn với đô thị hóa”; làm điểm xây dựng nông thôn mới nhân ra diện rộng, phấn đấu đến 2014 Thủy Thanh trở thành phường nội thị cùng với Thủy Bằng, Thủy Phù. Bao giờ cũng vậy, việc giữ gìn bản sắc nông thôn và phát triển đô thị luôn có mức độ đối kháng. Hiếm có di tích nào như Cầu Ngói vắt qua con sông nhỏ lại gần ngay không gian thuần Việt. Người nước ngoài họ ý thức nhiều hơn chúng ta về giá trị nguyên bản. Một sáng cận kề ngày hội, hàng hoa nằm ngay dưới những gốc đa, người người nhấp nhô náo nhiệt, nắng sớm mai rọi qua tàng cổ thụ, một vị khách Tây đứng ngẩn ra chụp ảnh hàng tiếng đồng hồ không chán; cái không gian nền nã quê kiểng ấy sẽ lưu mãi trong tâm trí của họ... Sự giả tạo trong cách bày biện buôn bán, sự "sắp đặt” gượng gạo sẽ đánh mất cái hồn của khu chợ quê kiểng này. Giữa chợ có những cây đa cây đề lâu năm, nhất khoát không được xâm hại mà đến lúc phải có chính sách bảo tồn. Mừng với một gian trưng bày các dụng cụ nông nghiệp ngay bên Cầu Ngói. Quá trình phát triển của nền văn minh lúa nước sẽ được "tái hiện” không chỉ qua cách thức trưng bày mà còn qua sự thuyết minh nhằm toát lên vẻ đẹp nhuần nhị thanh khiết của đồng quê thôn dã. Đây là ngày hội trước hết của người nông dân chân lấm tay bùn. Những sản phẩm nông nghiệp thô, đến những nông cụ hàng ngày gắn bó với họ từ sân nhà đến cánh đồng, nay được trưng bày như một thứ đồ cổ để khách có dịp thưởng lãm. Đáng suy ngẫm nhất là du khách từ thành phố, khách nước ngoài - những người chỉ mới biết đến việc làm nông qua sách vở và phim ảnh, thì nay họ có dịp tường tận từng thao tác.
Việc ngày 8-4 tới đây Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ phát hành bộ tem bưu chính "Cầu mái ngói” cũng sẽ lan truyền thương hiệu Cầu Ngói Thanh Toàn đến người dân muôn phương. Đây là ý tưởng nhằm hưởng ứng "Năm Du lịch quốc gia và Festival Huế 2012, cũng là "Năm đô thị” của Thừa Thiên-Huế để sớm hoàn thành hồ sơ Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Kết luận 48 của Chính phủ.
Festival là dấu ấn sâu đậm của Huế. Du khách hãy một lần ngồi trên Cầu Ngói để cảm nhận một vùng quê chơn chất đang thu mình trước luồng gió đô thị hóa tràn về.
Lễ hội Festival tại Thủy Thanh diễn ra từ 8 đến 11-4-2012 sẽ có Lễ cung nghinh Trần Thị Đạo từ nhà thờ họ Trần đến Cầu Ngói. Và tại đó sẽ đồng loạt diễn ra rất nhiều các chương trình văn hóa, thể thao đầy hào khí. Trải qua 5 kỳ Festival, Thủy Thanh sẽ rút được nhiều kinh nghiệm cho một Lễ hội chợ quê hết sức đằm thắm và quyến rũ bên Cầu Ngói. Sản phẩm du lịch "về nguồn” này được kéo màn vào đầu tháng 4 năm 2001, với Đêm thơ Ai về Cầu Ngói, đã hút được lượng lớn văn nghệ sĩ của Huế cũng như hầu hết các câu lạc bộ thơ, đặc biệt nhất là sự tham gia một cách say sưa của những người dân ở vùng đất hò vè, ca dao tục ngữ. Từ đây một chương trình được lên kế hoạch đưa vào tour nhân các dịp Festival, ấy là Chợ quê ngày hội.
"Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích” Cầu Ngói Thanh Toàn được công nhận di tích Quốc gia từ năm 1990. Cầu do mệnh phụ phu nhân Trần Thị Đạo bỏ tiền ra dựng vào năm Cảnh Hương thứ 57 (1776). Trận lụt năm 1784, và trận bão năm 1904 đã đánh sập; qua hai đợt tu sửa vào các năm 1906, 1991 cầu mới có lại dáng vẻ thanh tao quyến rũ như ngày nay.
Bà Trần Thị Đạo vốn người làng Thanh Thủy Chánh xưa dưới triều Lê, Cầu Ngói được dựng bằng gỗ theo lối "thượng gia hạ kiều”. Mái gần với kiến trúc đình chùa làng, nên đặt ở một nơi rặt quê như Thủy Thanh là hiếm. Không gian thuần nông với khu chợ nhỏ. Thương người dân làm đồng về cực nhọc hai mùa đông hạ, bà đã bỏ tiền làm cây cầu này để người người có nơi nghỉ ngơi, cũng không còn phải lội bộ gồng gánh qua con sông cực khổ; được thể hiện qua câu đối "tế xuyên mâu bửu phiệt - Thanh thử thắng hồng lâu”. Ngồi trên Cầu Ngói mùa hè mỗi trưa nhìn ra cánh đồng trải nắng mênh mông, hoặc những đêm trăng vằng vặc soi xuyên qua thân cầu... khó tả hết nỗi niềm của người phố thị. Kiến trúc cầu cũng dành một bàn thờ ở gian giữa, nên cầu Ngói có thể ví là một cái đình thu nhỏ. Vua Lê năm 1776 có Tờ sắc vinh danh bà Trần Thị Đạo: "Cuộc sống của bà làm cho mọi người ngưỡng mộ đủ mọi điều. Bà là người đáng ca ngợi hơn ai hết. Bà làm cho làng được ban ơn huệ...”.
Xã Thủy Thanh hiện có thể xem là một trung tâm du lịch đặc sắc của thị xã Hương Thủy. Ngoài thương hiệu Cầu Ngói Thanh Toàn từ lâu vẫn hút được lượng khách khá lớn kể cả người nước ngoài, nơi đây còn nhiều những miếu mạo đình đài cổ chứa những câu chuyện về các vị khai canh, Thành hoàng làng đầy huyền bí; các di tích văn hóa lịch sử như đình làng Vân Thê, phủ thờ Tôn Thất Thuyết. Để nói rằng, việc khai thác sản phẩm du lịch nơi đây còn ít, chủ yếu phục vụ trong các dịp lễ hội, lại chưa đi đôi với bảo tồn. Ban quản lý đã nghiêm khắc hạn chế người dân mang đồ đạc quá trọng lượng cho phép qua cầu? Đã có công trình khảo sát mức độ xuống cấp của khung cầu và mái ngói trải qua một phần tư thế kỷ này? Và, dòng nước đã trong xanh để hàng ngày cây cầu tuyệt mỹ soi bóng? Từ đây cũng cần mở rộng tầm nhìn bảo vệ nguồn nước của lạch sông (từng được các vua triều Nguyễn chú trọng); không chỉ vì tỉ lệ người dân làm nông nghiệp cao (chiếm trên 70% diện tích tự nhiên như Thủy Thanh) mà quan trọng là giữ gìn môi trường sống, tạo cảnh quan sinh động, phong phú. Đó cũng là yêu cầu cơ bản của nếp sống văn hóa đô thị...
Thực hiện phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới của Thủ tướng Chính phủ, Thị ủy Hương Thủy xác định lấy Thủy Thanh là một trong ba xã điển hình cho "xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng nông thôn mới, gắn với đô thị hóa”; làm điểm xây dựng nông thôn mới nhân ra diện rộng, phấn đấu đến 2014 Thủy Thanh trở thành phường nội thị cùng với Thủy Bằng, Thủy Phù. Bao giờ cũng vậy, việc giữ gìn bản sắc nông thôn và phát triển đô thị luôn có mức độ đối kháng. Hiếm có di tích nào như Cầu Ngói vắt qua con sông nhỏ lại gần ngay không gian thuần Việt. Người nước ngoài họ ý thức nhiều hơn chúng ta về giá trị nguyên bản. Một sáng cận kề ngày hội, hàng hoa nằm ngay dưới những gốc đa, người người nhấp nhô náo nhiệt, nắng sớm mai rọi qua tàng cổ thụ, một vị khách Tây đứng ngẩn ra chụp ảnh hàng tiếng đồng hồ không chán; cái không gian nền nã quê kiểng ấy sẽ lưu mãi trong tâm trí của họ... Sự giả tạo trong cách bày biện buôn bán, sự "sắp đặt” gượng gạo sẽ đánh mất cái hồn của khu chợ quê kiểng này. Giữa chợ có những cây đa cây đề lâu năm, nhất khoát không được xâm hại mà đến lúc phải có chính sách bảo tồn. Mừng với một gian trưng bày các dụng cụ nông nghiệp ngay bên Cầu Ngói. Quá trình phát triển của nền văn minh lúa nước sẽ được "tái hiện” không chỉ qua cách thức trưng bày mà còn qua sự thuyết minh nhằm toát lên vẻ đẹp nhuần nhị thanh khiết của đồng quê thôn dã. Đây là ngày hội trước hết của người nông dân chân lấm tay bùn. Những sản phẩm nông nghiệp thô, đến những nông cụ hàng ngày gắn bó với họ từ sân nhà đến cánh đồng, nay được trưng bày như một thứ đồ cổ để khách có dịp thưởng lãm. Đáng suy ngẫm nhất là du khách từ thành phố, khách nước ngoài - những người chỉ mới biết đến việc làm nông qua sách vở và phim ảnh, thì nay họ có dịp tường tận từng thao tác.
Việc ngày 8-4 tới đây Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ phát hành bộ tem bưu chính "Cầu mái ngói” cũng sẽ lan truyền thương hiệu Cầu Ngói Thanh Toàn đến người dân muôn phương. Đây là ý tưởng nhằm hưởng ứng "Năm Du lịch quốc gia và Festival Huế 2012, cũng là "Năm đô thị” của Thừa Thiên-Huế để sớm hoàn thành hồ sơ Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Kết luận 48 của Chính phủ.
Festival là dấu ấn sâu đậm của Huế. Du khách hãy một lần ngồi trên Cầu Ngói để cảm nhận một vùng quê chơn chất đang thu mình trước luồng gió đô thị hóa tràn về.
Tuesday, May 5, 2015
Chùa Thiền Lâm: chùa Phật đứng - Phật nằm
Du Lịch Huế - Chùa Thiền Lâm do Hoà thượng Hộ Nhẫn thành lập năm 1960. Nguyên do vào năm 1958, Giáo hội đề cử Ngài từ Tam Bảo về trụ trì chùa Tăng Quang; sau một thời gian ngắn Ngài nhận thấy hạnh độc cư thiền định, đầu đà Tam y Nhất bát nuôi mạng bằng khất thực không thích hợp ở đây, nên vào năm 1960 Ngài đến thôn Thượng II, xã Thuỷ Xuân, dựng một am thất nhỏ ở ngọn đồi Quảng Tế (nay là Thôn Thượng II, Xã Thuỷ Xuân, Thành phố Huế) để tu hành.
Chùa Thiền Lâm (hay còn gọi chùa “Phật đứng - Phật nằm”) được sư Hộ Nhẫn xây dựng năm 1960 với hình hài ban đầu chỉ là một Cốc nhỏ. Đến hiện tại, chùa là quần thể gồm nhiều công trình kiến trúc như tượng, tháp mộ, tháp Phật, nhà tăng chúng... ở nhiều vị trí khác nhau.

Dáng nằm và gương mặt của bảo tượng Thế Tôn Niết Bàn thể hiện vẻ an lạc, giải thoát của Ðức Thế Tôn.
Khác với bất kỳ những ngôi tự của Phật giáo Bắc Tông với cổng tam quan dẫn lối vào vườn thiền, chùa Thiền Lâm mở cửa đón đồ chúng bằng cổng chào mang phong cách Phật giáo Nam Tông, nhẹ nhàng nhưng ấn tượng.
Vào đến chùa, tận cùng khuôn viên ở bên trái là ngôi bảo tháp màu trắng đỉnh vàng cao vút, uy nghi mà thanh thoát giữa nền trời. Bảo tháp có 2 phần: tầng dưới là chánh điện; tầng trên tôn trí Xá lợi Phật Thích Ca và chư Thánh tăng.
Là ngôi chùa Phật giáo Nam Tông nhưng chất thiền vẫn rõ nét trong không gian và các công trình kiến trúc của chùa. Không mang trên mình bề dày như những ngôi chùa Bắc Tông trên vùng đất xứ Huế, chùa “Phật đứng - Phật nằm” gợi đến cảm giác “là lạ”, nhẹ nhàng và tĩnh tại toát lên từ những gì mà ngôi tự đang có.
Một số hình ảnh đẹp tại chùa Thiền Lâm “Phật đứng - Phật nằm”:

Cổng chùa Thiền Lâm

Bên ngoài chùa có pho tượng “Thế Tôn khất thực” cao khoảng 8 mét, rất uy nghiêm và từ ái

Tượng Ðức Phật toạ thiền, quay mặt về hướng Ðông. Tượng và toà sen cao 5,2 mét, tôn trí trên bảo đài 3 tầng cao 9 mét

Tháp mộ của Hoà thượng Hộ Nhẫn - người sáng lập và xây dựng Chùa Thiền Lâm
Cụm kiến trúc Xà vương bảo vệ Đức Phật vừa được xây dựng ở phía tay trái sân chùa

Tượng đức Phật uy nghi trong tăng bào đối diện cổng chào
Màu vàng của tượng và tháp hoà lẫn với màu xanh của cây cỏ


Bảo tháp uy nghiêm và sừng sững được tôn thêm bởi hình ảnh con nghê
Chi tiết kiến trúc 4 con sư tử nhìn về 4 hướng ở tháp mộ gợi nhớ về thạch trụ Ashoka ở Ấn Độ

Chánh điện đơn giản nhưng không kém phần trang nghiêm

Pho tượng Hoà thượng Hộ Nhẫn toạ thiền cũng được tôn trí phía tay trái chánh điện sau ngày ngài viên tịch
Chùa Thiền Lâm (hay còn gọi chùa “Phật đứng - Phật nằm”) được sư Hộ Nhẫn xây dựng năm 1960 với hình hài ban đầu chỉ là một Cốc nhỏ. Đến hiện tại, chùa là quần thể gồm nhiều công trình kiến trúc như tượng, tháp mộ, tháp Phật, nhà tăng chúng... ở nhiều vị trí khác nhau.
Dáng nằm và gương mặt của bảo tượng Thế Tôn Niết Bàn thể hiện vẻ an lạc, giải thoát của Ðức Thế Tôn.
Khác với bất kỳ những ngôi tự của Phật giáo Bắc Tông với cổng tam quan dẫn lối vào vườn thiền, chùa Thiền Lâm mở cửa đón đồ chúng bằng cổng chào mang phong cách Phật giáo Nam Tông, nhẹ nhàng nhưng ấn tượng.
Vào đến chùa, tận cùng khuôn viên ở bên trái là ngôi bảo tháp màu trắng đỉnh vàng cao vút, uy nghi mà thanh thoát giữa nền trời. Bảo tháp có 2 phần: tầng dưới là chánh điện; tầng trên tôn trí Xá lợi Phật Thích Ca và chư Thánh tăng.
Là ngôi chùa Phật giáo Nam Tông nhưng chất thiền vẫn rõ nét trong không gian và các công trình kiến trúc của chùa. Không mang trên mình bề dày như những ngôi chùa Bắc Tông trên vùng đất xứ Huế, chùa “Phật đứng - Phật nằm” gợi đến cảm giác “là lạ”, nhẹ nhàng và tĩnh tại toát lên từ những gì mà ngôi tự đang có.
Một số hình ảnh đẹp tại chùa Thiền Lâm “Phật đứng - Phật nằm”:
Cổng chùa Thiền Lâm
Bên ngoài chùa có pho tượng “Thế Tôn khất thực” cao khoảng 8 mét, rất uy nghiêm và từ ái
Tượng Ðức Phật toạ thiền, quay mặt về hướng Ðông. Tượng và toà sen cao 5,2 mét, tôn trí trên bảo đài 3 tầng cao 9 mét
Tháp mộ của Hoà thượng Hộ Nhẫn - người sáng lập và xây dựng Chùa Thiền Lâm
Cụm kiến trúc Xà vương bảo vệ Đức Phật vừa được xây dựng ở phía tay trái sân chùa
Tượng đức Phật uy nghi trong tăng bào đối diện cổng chào
Màu vàng của tượng và tháp hoà lẫn với màu xanh của cây cỏ
Bảo tháp uy nghiêm và sừng sững được tôn thêm bởi hình ảnh con nghê
Chi tiết kiến trúc 4 con sư tử nhìn về 4 hướng ở tháp mộ gợi nhớ về thạch trụ Ashoka ở Ấn Độ
Chánh điện đơn giản nhưng không kém phần trang nghiêm
Pho tượng Hoà thượng Hộ Nhẫn toạ thiền cũng được tôn trí phía tay trái chánh điện sau ngày ngài viên tịch
Sunday, May 3, 2015
Tiếng chuông chùa
Du Lịch Huế - “Tiếng chuông chùa”, ba chữ mang sẵn âm thanh tính linh hướng nội của hồn dân tộc, vô cùng gợi cảm. Hàng ngàn năm nay, vốn sống trong môi trường văn hóa đồng xanh nông nghiệp, thiên trọng màu xanh của thiên nhiên, của cây lá, mây trời, dịu dàng lã lướt như làn sóng lúa xanh non đang lã lơi đùa trước gió thu êm...
Người dân Việt tộc lại được huân tập nguồn âm thanh tính linh từ tiếng chuông chùa, âm thanh của đạo Phật từ bi tự tại, của “tam giáo đồng quy”, của Đạo học phương Đông, để trở thành con người có nếp sống tư duy, nếp sống tình cảm, và nếp sống tính linh rất đặc thù, rất Việt Nam.
Thật vậy, từ thuở còn “con nít”, tuổi mới lên năm, lên sáu, ít ai là không được người lớn dắt theo đến chùa. Hình ảnh ngôi chùa làng thấp bé, như bị mấy cây đa, cây đề, cây sanh, thả đầy tua rễ lòng thòng, vươn tỏa cành lá im mát ôm lấy mái ngói rêu phong của ngôi chùa. Bên trong luôn luôn chỉ có những ngọn nến rung rinh trên bàn thờ; lấp loáng khi mờ khi tỏ, không đủ chiếu sáng những pho tượng Phật, rất lớn đối với tuổi thơ, vừa gây sợ vừa gợi tính tò mò; em bé chỉ dám nhìn lấm lét, nắm tay mẹ bước đi rón rén, nhẹ nhàng, không dám hỏi lời nào!
Thế rồi, cùng với thời gian, những con người nhỏ bé ấy cứ lớn dần lên, trưởng thành, và quen đi với tiếng chuông chùa sớm chiều ngân nga, mà có khi vì cuộc sống hằng ngày, lại vì đã quen thuộc quá thành ra người ta “quên nghe”, không còn để ý! Con người “quên nghe”; nhưng chuông chùa thì đêm đêm tự cổ chí kim lại “không quên dóng”, và vẫn ngân nga sớm chiều. Âm thanh đều đặn ấy, quyện lẫn với hương khói lam hiền cứ mãi lan tỏa, lan tỏa đến tận hư không thế giới, và đã huân tập thành tính hiền từ dịu dàng cho người dân qua tháng ngày, theo sự thâm nhập bằng vô thức, đã hình thành con người trầm tĩmh, nhân ái, biết “bỏ chín làm mười”, “cải tà quy chánh”.
Vậy nên, có nhà nghiên cứu văn hóa đã viết:”Từ bao đời nay, tục thờ Phật cùng tồn tại với tục thờ Thần, nên chùa và đình làng là hai trung tâm văn hóa của làng xã truyền thống Huế. Nhưng xem ra tiếng chuông công phu ngân nga sớm chiều trong bầu không khí thanh tĩnh, lắng đọng vào tâm khảm con người sâu sắc, bền bĩ hơn tiếng chuông rộn ràng náo nức, thỉnh thoảng mới dóng lên mỗi năm đôi ba lần trong dịp kỳ an, xuân thủ, thu thường, đông chí tùy nơi... Do đó Phật giáo cũng có nét riêng, tạo nên sự hài hòa giữa tiên và tục, giữa cảnh và người, giữa tình và lý, góp phần hình thành phong cách truyền thống trầm tĩnh, nhân ái, tế nhị và thanh nhã của đất cố đô, nơi xưa kia từng được gọi là Thiền kinh”(Lê Nguyễn Lưu). Người viết đoạn văn trên đã nhận ra rằng tiếng chuông chùa ngân nga sớm chiều, lâu ngày huân tập thấm sâu vào tâm thức con người Thuận Hóa ngày xưa, để thể hiện ra trong phong cách sống có tính đặc thù của con người Huế xưa nay.

Tiếng chuông chùa xa, vẳng đưa theo gió là một âm thanh tính linh gợi hồn dân tộc, làm cho con người nhớ về nguồn cội. Bởi vậy mà Nguyễn Phi Khanh, phụ thân Nguyễn Trãi,vào thời nhà Hồ (1400-1407), được Quý Ly mệnh vào công cán ở cổ thành Thuận Hóa đóng tại Thành Trung, nghe được tiếng chuông xa, có thể là tiếng chuông của Sùng Hóa quốc tự ở làng Triêm Ân, văng vẳng ngân theo làn gió trên mặt sông Linh Giang, đã làm một bài thơ bốn câu rất hay. Trong bài Tư Dung Vãn, Đào Duy Từ (1572-1634) đã ghi lại tiếng chuông chùa quanh vùng núi Rùa, núi Thúy Vân ở cửa biển Tư Hiền hiện nay. Âm thanh quả đại hồng chung của chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (chú tạo vào năm 1710) đã từng ngân vang trên cõi Phú Xuân xưa... Đến tiếng chuông Thiên Mụ từ đời Gia Long (chú tạo năm 1815) về sau, là một âm thanh tính linh kỳ diệu không đâu có.
Tiếng chuông chùa Thiên Mụ, dóng lên vào lúc rạng sáng hoặc vào buổi hoàng hôn đã bao đời nay có tác dụng rất mạnh vào tâm khảm, và đời sống thường nhật của con người xứ Huế. Cách đây (2009) khoảng 70 năm hơn, người dân ở các vùng An Ninh, Lựu Bảo, An Bình, Xuân Hòa, Trúc Lâm, An Vân, An Hòa; cho đến những làng xa hơn như La Chử, Phụ Ổ, Quê Chử, Hương Cần, Đốc Sơ; rồi ở mạn tây-nam thì có các làng Long Hồ, Ngọc Hồ, Hải Cát, lên cho đến Bằng Lãng; bên kia sông Hương, thì có các làng mạn Lương Quán, Nguyệt Biều, Dương Xuân, Cư Chánh, Dương Phẩm v. v... đều dậy mở trâu ra đồng cày ruộng, hoặc dậy sinh hoạt theo nghề nghiệp của mình từ lúc chuông chùa Thiên Mụ đánh, hoặc từ khi hồi chuông nhập.
Chùa Thiên Mụ được xây trên đồi cao, gác chuông còn được kiến trúc cao hơn nữa; tiếng chuông chùa lại có âm thanh kỳ diệu, ngân vọng rất xa và kéo dài rất lâu; cho nên ngày xưa, khi cuộc sống nông thôn còn phác dã, giản đơn; nếu gặp buổi khí trời trong trẻo thanh bình, tiếng chuông ngân đi rất xa, có khi người dân ở tận phá Tam Giang vẫn còn nghe được. Tiếng chuông triêu mộ của các chùa quanh kinh thành Huế ngân nga theo tiến trình thời gian đã bốn năm trăm năm nay, huân tập nếp sống tình cảm tính linh sâu đậm, làm cho người Huế đi xa quê hương không khỏi ngậm ngùi nhớ về cảnh chùa xứ Huế: Thiên Mụ, Từ Đàm, Báo Quốc, Thuyền Tôn, Vạn Phước, Trúc Lâm, Từ Hiếu, Tây Thiên... và biết bao chùa khác nữa! Nhớ tiếng chuông chùa, nhớ dòng nước mát sông Hương, nhớ tiếng thông reo trên đỉnh Ngự... Tiếng chuông chùa - nhất là tiếng chuông chùa Thiên Mụ - đã trở thành tiếng vọng quê hương, tiếng tự tình dân tộc của cư dân vùng Thuận Hóa – Phú Xuân.
Người dân Việt tộc lại được huân tập nguồn âm thanh tính linh từ tiếng chuông chùa, âm thanh của đạo Phật từ bi tự tại, của “tam giáo đồng quy”, của Đạo học phương Đông, để trở thành con người có nếp sống tư duy, nếp sống tình cảm, và nếp sống tính linh rất đặc thù, rất Việt Nam.
Thật vậy, từ thuở còn “con nít”, tuổi mới lên năm, lên sáu, ít ai là không được người lớn dắt theo đến chùa. Hình ảnh ngôi chùa làng thấp bé, như bị mấy cây đa, cây đề, cây sanh, thả đầy tua rễ lòng thòng, vươn tỏa cành lá im mát ôm lấy mái ngói rêu phong của ngôi chùa. Bên trong luôn luôn chỉ có những ngọn nến rung rinh trên bàn thờ; lấp loáng khi mờ khi tỏ, không đủ chiếu sáng những pho tượng Phật, rất lớn đối với tuổi thơ, vừa gây sợ vừa gợi tính tò mò; em bé chỉ dám nhìn lấm lét, nắm tay mẹ bước đi rón rén, nhẹ nhàng, không dám hỏi lời nào!
Thế rồi, cùng với thời gian, những con người nhỏ bé ấy cứ lớn dần lên, trưởng thành, và quen đi với tiếng chuông chùa sớm chiều ngân nga, mà có khi vì cuộc sống hằng ngày, lại vì đã quen thuộc quá thành ra người ta “quên nghe”, không còn để ý! Con người “quên nghe”; nhưng chuông chùa thì đêm đêm tự cổ chí kim lại “không quên dóng”, và vẫn ngân nga sớm chiều. Âm thanh đều đặn ấy, quyện lẫn với hương khói lam hiền cứ mãi lan tỏa, lan tỏa đến tận hư không thế giới, và đã huân tập thành tính hiền từ dịu dàng cho người dân qua tháng ngày, theo sự thâm nhập bằng vô thức, đã hình thành con người trầm tĩmh, nhân ái, biết “bỏ chín làm mười”, “cải tà quy chánh”.
Vậy nên, có nhà nghiên cứu văn hóa đã viết:”Từ bao đời nay, tục thờ Phật cùng tồn tại với tục thờ Thần, nên chùa và đình làng là hai trung tâm văn hóa của làng xã truyền thống Huế. Nhưng xem ra tiếng chuông công phu ngân nga sớm chiều trong bầu không khí thanh tĩnh, lắng đọng vào tâm khảm con người sâu sắc, bền bĩ hơn tiếng chuông rộn ràng náo nức, thỉnh thoảng mới dóng lên mỗi năm đôi ba lần trong dịp kỳ an, xuân thủ, thu thường, đông chí tùy nơi... Do đó Phật giáo cũng có nét riêng, tạo nên sự hài hòa giữa tiên và tục, giữa cảnh và người, giữa tình và lý, góp phần hình thành phong cách truyền thống trầm tĩnh, nhân ái, tế nhị và thanh nhã của đất cố đô, nơi xưa kia từng được gọi là Thiền kinh”(Lê Nguyễn Lưu). Người viết đoạn văn trên đã nhận ra rằng tiếng chuông chùa ngân nga sớm chiều, lâu ngày huân tập thấm sâu vào tâm thức con người Thuận Hóa ngày xưa, để thể hiện ra trong phong cách sống có tính đặc thù của con người Huế xưa nay.
Tiếng chuông chùa xa, vẳng đưa theo gió là một âm thanh tính linh gợi hồn dân tộc, làm cho con người nhớ về nguồn cội. Bởi vậy mà Nguyễn Phi Khanh, phụ thân Nguyễn Trãi,vào thời nhà Hồ (1400-1407), được Quý Ly mệnh vào công cán ở cổ thành Thuận Hóa đóng tại Thành Trung, nghe được tiếng chuông xa, có thể là tiếng chuông của Sùng Hóa quốc tự ở làng Triêm Ân, văng vẳng ngân theo làn gió trên mặt sông Linh Giang, đã làm một bài thơ bốn câu rất hay. Trong bài Tư Dung Vãn, Đào Duy Từ (1572-1634) đã ghi lại tiếng chuông chùa quanh vùng núi Rùa, núi Thúy Vân ở cửa biển Tư Hiền hiện nay. Âm thanh quả đại hồng chung của chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (chú tạo vào năm 1710) đã từng ngân vang trên cõi Phú Xuân xưa... Đến tiếng chuông Thiên Mụ từ đời Gia Long (chú tạo năm 1815) về sau, là một âm thanh tính linh kỳ diệu không đâu có.
Tiếng chuông chùa Thiên Mụ, dóng lên vào lúc rạng sáng hoặc vào buổi hoàng hôn đã bao đời nay có tác dụng rất mạnh vào tâm khảm, và đời sống thường nhật của con người xứ Huế. Cách đây (2009) khoảng 70 năm hơn, người dân ở các vùng An Ninh, Lựu Bảo, An Bình, Xuân Hòa, Trúc Lâm, An Vân, An Hòa; cho đến những làng xa hơn như La Chử, Phụ Ổ, Quê Chử, Hương Cần, Đốc Sơ; rồi ở mạn tây-nam thì có các làng Long Hồ, Ngọc Hồ, Hải Cát, lên cho đến Bằng Lãng; bên kia sông Hương, thì có các làng mạn Lương Quán, Nguyệt Biều, Dương Xuân, Cư Chánh, Dương Phẩm v. v... đều dậy mở trâu ra đồng cày ruộng, hoặc dậy sinh hoạt theo nghề nghiệp của mình từ lúc chuông chùa Thiên Mụ đánh, hoặc từ khi hồi chuông nhập.
Chùa Thiên Mụ được xây trên đồi cao, gác chuông còn được kiến trúc cao hơn nữa; tiếng chuông chùa lại có âm thanh kỳ diệu, ngân vọng rất xa và kéo dài rất lâu; cho nên ngày xưa, khi cuộc sống nông thôn còn phác dã, giản đơn; nếu gặp buổi khí trời trong trẻo thanh bình, tiếng chuông ngân đi rất xa, có khi người dân ở tận phá Tam Giang vẫn còn nghe được. Tiếng chuông triêu mộ của các chùa quanh kinh thành Huế ngân nga theo tiến trình thời gian đã bốn năm trăm năm nay, huân tập nếp sống tình cảm tính linh sâu đậm, làm cho người Huế đi xa quê hương không khỏi ngậm ngùi nhớ về cảnh chùa xứ Huế: Thiên Mụ, Từ Đàm, Báo Quốc, Thuyền Tôn, Vạn Phước, Trúc Lâm, Từ Hiếu, Tây Thiên... và biết bao chùa khác nữa! Nhớ tiếng chuông chùa, nhớ dòng nước mát sông Hương, nhớ tiếng thông reo trên đỉnh Ngự... Tiếng chuông chùa - nhất là tiếng chuông chùa Thiên Mụ - đã trở thành tiếng vọng quê hương, tiếng tự tình dân tộc của cư dân vùng Thuận Hóa – Phú Xuân.
Lầu Tứ Phương vô sự
Du Lịch Huế - Lầu Tứ Phương Vô Sự là một lầu gồm 02 tầng nằm trên Khuyết đài, mặt Bắc của hoàng thành Huế, thường được gọi là Bắc Khuyết đài. Bắc khuyết đài được xây dựng vào năm 1804 cùng với Đông khuyết đài, Tây khuyết đài và Nam khuyết đài (Ngọ Môn) thuộc Hoàng thành bảo vệ Đại Nội Huế. Trên mỗi đài có một ngôi nhà vuông làm bằng gỗ, có tên là Đình Tứ Thông được sử dụng làm nơi ở cho binh lính bảo vệ cửa ra vào Đại Nội.

Lầu Tứ phương vô sự khi còn nguyên vện (ảnh tư liệu)

Hoang phế và tàn lụi qua thời gian, chỉ còn là những bức tường đổ nát
Lầu Tứ phương vô sự được vua Khải Định cho xây vào năm 1923 trên bắc Khuyết đài, là một công trình kiến trúc hai tầng, rộng khoảng 150 m², giao thoa giữa hai nền kiến trúc Á – Âu. Lầu Tứ Phương Vô Sự là nơi nhà vua và hoàng gia lên hóng mát và ngắm cảnh, và là nơi học tập hằng ngày của các hoàng tử và công chúa giai đoạn cuối của triều Nguyễn. Tuy tên của nó mang nghĩa mong mọi sự bình yên nhưng công trình này tồn tại trong lịch sử chỉ 45 năm (1923-1968). Qua nhiều cuộc chiến tranh, lầu đã bị tàn phá nghiêm trọng, chỉ còn lại một phần tường nhỏ.

Lầu Tứ phương vô sự là một trong những công trình có giá trị nghệ thuật kiến trúc thuộc Quần thể di tích cố đô Huế, vì vậy từ tháng 12/2008 đã được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trùng tu, phục hồi.

Lan can và hành lang theo lối kiến trúc châu Âu
Mái lầu lại kiến trúc rồng phượng theo lối kiến trúc châu Á truyền thống

Công trình được dựng lại đúng theo nguyên bản xưa. Gồm sàn lát gạch, trần làm bằng gỗ, có nhiều đèn mang phong cách Tây. Tầng dưới để các đồ sứ kiểu trưng bày. Tầng trên hiện đang để trống. Ngoài sân có nhiều hòn giả sơn và sứ, thông tạo cảnh quan thoáng mát. Lên đây, có thể quan sát được nhiều phía của Kinh thành Huế.


Quang cảnh xung quanh khi đứng trên lầu Tứ Phương vô sự
Ngày 3/9/2010, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức khánh thành đưa điểm di tích này vào chương trình tham quan sau 20 tháng trùng tu, phục hồi. Dịp này, tại lầu Tứ phương Vô sự đã trưng bày bộ sưu tập cổ vật “Dấu ấn lịch sử qua cổ vật” do bảo tàng cổ vật cung đình Huế và hai nhà sưu tập Mai Bá Thiện, Nguyễn Hữu Hoàng cung cấp.
Và đây là những hình ảnh ngôi lầu lộng lẫy vào đêm :

Nguyễn Văn Liêm
Lầu Tứ phương vô sự khi còn nguyên vện (ảnh tư liệu)
Hoang phế và tàn lụi qua thời gian, chỉ còn là những bức tường đổ nát
Lầu Tứ phương vô sự được vua Khải Định cho xây vào năm 1923 trên bắc Khuyết đài, là một công trình kiến trúc hai tầng, rộng khoảng 150 m², giao thoa giữa hai nền kiến trúc Á – Âu. Lầu Tứ Phương Vô Sự là nơi nhà vua và hoàng gia lên hóng mát và ngắm cảnh, và là nơi học tập hằng ngày của các hoàng tử và công chúa giai đoạn cuối của triều Nguyễn. Tuy tên của nó mang nghĩa mong mọi sự bình yên nhưng công trình này tồn tại trong lịch sử chỉ 45 năm (1923-1968). Qua nhiều cuộc chiến tranh, lầu đã bị tàn phá nghiêm trọng, chỉ còn lại một phần tường nhỏ.
Lầu Tứ phương vô sự là một trong những công trình có giá trị nghệ thuật kiến trúc thuộc Quần thể di tích cố đô Huế, vì vậy từ tháng 12/2008 đã được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trùng tu, phục hồi.
Lan can và hành lang theo lối kiến trúc châu Âu
Mái lầu lại kiến trúc rồng phượng theo lối kiến trúc châu Á truyền thống
Công trình được dựng lại đúng theo nguyên bản xưa. Gồm sàn lát gạch, trần làm bằng gỗ, có nhiều đèn mang phong cách Tây. Tầng dưới để các đồ sứ kiểu trưng bày. Tầng trên hiện đang để trống. Ngoài sân có nhiều hòn giả sơn và sứ, thông tạo cảnh quan thoáng mát. Lên đây, có thể quan sát được nhiều phía của Kinh thành Huế.
Quang cảnh xung quanh khi đứng trên lầu Tứ Phương vô sự
Ngày 3/9/2010, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức khánh thành đưa điểm di tích này vào chương trình tham quan sau 20 tháng trùng tu, phục hồi. Dịp này, tại lầu Tứ phương Vô sự đã trưng bày bộ sưu tập cổ vật “Dấu ấn lịch sử qua cổ vật” do bảo tàng cổ vật cung đình Huế và hai nhà sưu tập Mai Bá Thiện, Nguyễn Hữu Hoàng cung cấp.
Và đây là những hình ảnh ngôi lầu lộng lẫy vào đêm :
Nguyễn Văn Liêm
Saturday, May 2, 2015
Trấn Bình đài (Mang cá nhỏ)
Du Lịch Huế - Nếu Hoàng thành và Tử Cấm thành đều nằm bên trong Kinh thành thì Trấn Bình đài tọa lạc bên ngoài tòa thành lũy to lớn ấy.
Căn cứ vào vị thế chiến lược của nó trong hệ thống kiến trúc phòng thủ Kinh thành Huế và một vài sự kiện kịch sử từng diễn ra ở đây, chúng ta thấy Trấn Bình đài đã giữ một vai trò tiền đồn thiết yếu đối với Kinh thành. Có người đã cho rằng Trấn Bình đài là cái “yết hầu” liên quan đến sự mất còn của Kinh thành về mặt quân sự và chính trị.
Trấn Bình đài nằm sát ngoài góc đông bắc của Kinh thành và cũng được xây dựng theo kiểu Vauban. Mặt bằng của nó có hình lục giác không đều. Theo sử sách của triều Nguyễn, Trấn Bình đài có chu vi 1.048m, tường thành cao 5,10m, dày gần 15m, phòng lộ chạy dọc theo ngoài chân tường thành rộng khoảng 7,50m, hào chung quanh rộng 32m và sâu 4,25m. Vì công trình kiến trúc thành lũy này hoàn toàn mang tính quân sự, cho nên bên trong phạm vi của nó không hề xây dựng một cung điện hoặc một công trình kiến trúc văn hóa hay dân sự nào. Về mặt võ bị, có thể nói rằng Trấn Bình đài là cái pháo đài thứ 25 của Kinh thành Huế, hay nói đúng hơn, đây là một thành phụ của Kinh thành. Hai thành chính và thành phụ chỉ cách nhau một đoạn hào chung. Bên trong thành phụ này, ngày xưa đã xây những bệ cao để đặt 3 dàn súng đại bác, và tất nhiên cũng có kho đạn (hỏa dược khố), điếm canh (để lính túc trực).
Muốn đi vào căn cứ quân sự này, người ta phải dùng một trong hai cửa thành: Trấn Bình môn và Trường Định môn. Cả hai cửa đều thuộc loại “ám đạo” (poterne), nghĩa là những cửa chỉ trổ xuyên qua thân tường thành, chứ không xây vọng lâu ở bên trên.
Có điều đáng lưu ý là Trấn Bình môn không nằm ở phạm vi của Trấn Bình đài, mà lại nằm một vị trí thuộc vòng tường thành của Kinh thành. Cửa này đươc trổ ra ở giữa đoạn thành nối hai pháo đài Bắc Định và Đông Bình (của Kinh thành) lại với nhau. Ngay trước mặt cửa là một chiếc cầu xây bằng đá và gạch bắc qua hào, dùng để nối liền mạch giao thông giữa hai địa phận của thành chính và thành phụ. Hiện nay vẫn còn tấm biển bằng đá thanh khắc ba chữ “Trấn Bình môn” gắn ở phía trên của vòm cửa.
Còn cửa Trường Định thì được trổ ra ở giữa hông phía nam Trấn Bình đài. Cửa này có kích thước nhỏ hẹp hơn so với các cửa của Kinh thành; lối đi chỉ rộng 2m và vòm cửa chỉ cao 3m. Cửa này được dùng cho quân lính phòng thủ ở thành phụ đi ra ngoài thành để phản kích trên những đoạn thành giai ở chung quanh nó và lân cận thuộc mé đông thành chính.
Dọc theo mặt trong của vòng thành phụ, có tất cả 6 hệ thống bậc cấp dùng để đi lên thượng thành. Mỗi hệ thống bậc cấp rộng 3,35m.
Có một điều đáng lưu ý nữa ở đây là các tác giả của Trấn Bình đài đã không xây dựng tường thành ở 2 cạnh phía tây và tây nam của nó, vì 2 lý do: một là, 2 cạnh này không có chức năng phòng thủ; hai là cần có sự thông thoáng để quân lính trên thành chính có thể quan sát và chế ngự một cách dễ dàng những điều bất trắc có thể xảy ra bên trong thành phụ.

Trấn Bình đài được xây dựng cùng thời với Kinh thành. Lúc đầu (1805), nó cũng đươc đắp bằng đất đào từ hào lên. Sau đó, từ cuối thời Gia Long đến giữa thời Minh Mạng, hai mặt của nó cũng đều được xây ốp bằng gạch.
Khi qui hoạch và xây dựng hệ thống thành quách ở Huế vào đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long và các nhà kiến trúc bên cạnh nhà vua đã cân nhắc rất kỹ về vấn đề làm thêm cái thành phụ này ở sát nách Kinh thành. Tuy chỉ cách nhau bằng một đoạn hào chung, nhưng Trấn Binh đài cần thiết về mặt phòng thủ cho đến nỗi pháo đài Bắc Định ở góc đông bắc của thành chính không giữ thay được nhiệm vụ mà các nhà quân sự giao phó cho thành phụ này.
Bấy giờ, nếu có kẻ địch từ bên ngoài muốn tấn công Kinh thành thì phải đi bằng tàu thuyền vào hai cửa biển Thuận An và Tư Hiền, rồi ngược dòng sông Hương.Ở phía trước góc đông bắc của Kinh thành lại có đến hai nhánh của con sông ấy chĩa vào. Cần phải có thêm Trấn Bình đài để kiểm soát và chế ngự tất cả tàu thuyền lạ mặt xuất hiện trên hai nhánh sông đó, nhất là nhánh bên trái, nơi có giang cảng Bao Vinh tấp nập thương thuyền nội địa và quốc tế.
Khi mới lựa chọn vị trí và qui hoạch mặt bằng kiến trúc Kinh thành, có thể triều đình Gia Long đã muốn cho góc thành đó, tức là pháo đài Bắc Định, nằm càng gần khúc quẹo của đoạn sông Hương ở phía nam và tây nam làng Tiên Nộn càng tốt, cốt ý ngoài việc để cho chính Kinh thành kiểm soát trực tiếp thương cảng Bao Vinh, còn để cho hai mặt của góc thành đó được khúc sông uốn cong ấy che chở. Nhưng, muốn thiết lập một phần mặt bằng Kinh thành lên trên địa phận ấy thì, theo địa thế, mặt bằng tổng thể của tòa thành này sẽ có một hình dạng méo mó, không được tương đối vuông vức, cân xứng, và có thể mang một diện mạo khác, cũng như trục chính của nó có thể quay về một hướng khác so với những gì được hoạch định sau đó. Bởi vậy, cuối cùng, để bảo đảm tính thẩm mỹ và một số nguyên tắc kiến trúc của Kinh thành, các tác giả của nó đã quyết định xây thêm thành phụ Trấn Bình đài nằm doi ra ngoài góc đông bắc của thành chính.
Về danh xưng của cái thành phụ ấy, lúc đầu, dưới thời Gia Long, nó được đặt tên là Thái Bình đài. Và cái cửa từ Kinh thành đi qua đó được gọi là Thái Bình môn. Đến năm 1836, triều đình Minh Mạng đổi những tên ấy thành Trấn Bình đài và Trấn Bình môn. Nhưng, ngay từ khi mới xây dựng xong, cái thành phụ này đã được dân chúng địa phương gọi là “thành Mang Cá”, và sau đó thì gọi là “đồn Mang Cá”. Theo một nhà nghiên cứu người Pháp trước đây là Léopold Cadière thì sở dĩ nó được gọi như thế là vì bên trong phạm vi của thành này, có hai cái hồ nằm theo dạng chữ V trông giống như những cái mang của một con cá. Tuy nhiên, “mang cá” có lẽ là hình dạng tương tự của mặt bằng tổng thể tòa thành phụ này, vì đến khảo sát trên thực địa, không hề thấy dấu vết của hai cái hồ vừa nói.
Dù sao đi nữa, từ cuối thế kỷ XIX đến nay, người Huế cũng đã và đang sử dụng đến hai địa danh Mang Cá là Mang Cá Lớn và Mang Cá Nhỏ để chỉ hai địa phận khác nhau: một là phần đất Trấn Bình đài và hai là phần đất ở bên trong góc đông bắc của Kinh thành. Hai phần đất này đã bị triều đình nhà Nguyễn lần lượt nhường cho Pháp đóng quân từ hai thời điểm khác nhau: năm 1884 và năm 1886. Sự xuất hiện hai địa danh ấy liên quan đến một giai đoạn lịch sử.
Vì thấy rõ Trấn Bình đài là cái “cuốn họng” của Kinh thành, cho nên, trong quá trình xâm lấn chủ quyền của triều đình Huế, thực dân Pháp đã tìm cách chiếm hữu Trấn Bình đài kể từ sau vụ đánh chiếm Trấn Hải thành ở cửa biển Thuận An vào năm 1883. Một năm sau, vì yếu thế, triều đình nhà Nguyễn phải nhường Trấn Bình đài cho Pháp đóng quân theo tinh thần điều V của Hiệp ước Patenôtre (Giáp thân, 1884). Cho đến bây giờ, nó vẫn được gọi là “thành Mang Cá”. Nhưng, sau đó 2 năm (1886), Toàn quyền Paul Bert lại ép triều đình Đồng Khánh nhường thêm một khu đất ở bên trong góc đông bắc của Kinh thành để quân Pháp xây dựng thêm doanh trại, đồn bót, bệnh xá, nhà nguyện, v.v... Ngoài ra, họ còn xây một bức tường thành bằng đá và gạch khá cao để ngăn cách riêng biệt phần đất mà họ thủ đắc trong Thành Nội. Diện tích khu nhượng địa lần này lớn gấp bội phần so với lần trước. Do đó, để phân biệt sự khác nhau giữa hai địa phận ấy, nhân dân địa phương đã gọi Trấn Bình đài là Mang Cá Nhỏ và khu đất mới nhường thêm ở trong góc đông bắc của kinh thành là Mang Cá Lớn.
Nhìn chung về Trấn Bình đài, từ tổng thể đến các bộ phận kiến trúc, như cửa thành, mặt pháo đài, hông pháo đài, tường bắn, pháo nhãn, hào, phòng lộ, thành giai, kho đạn, điếm canh..., đều đã được hoạch định, tính toán và xây dựng một cách chu đáo, kỹ lưỡng và phù hợp với chức năng phòng vệ ở vị thế chiến lược hiểm yếu mà người ta giao phó cho nó. Do đó, trong một quyển sách của mình, tác giả Đào Trinh Nhất đã viết: “Trấn Bình đài là một nơi hiểm yếu của Kinh thành và rất có quan hệ về đường võ bị... Chỗ ấy có cái hình thế quanh co hiểm trở..., có đủ cả mọi sự cần dùng trong việc thủ thành và dụng võ. Triều đình ta lập ra chỗ đó để đóng quân, chứa khí giới, cốt để chống giữ Kinh thành, coi như là cuống họng của Kinh thành vậy”.
Căn cứ vào vị thế chiến lược của nó trong hệ thống kiến trúc phòng thủ Kinh thành Huế và một vài sự kiện kịch sử từng diễn ra ở đây, chúng ta thấy Trấn Bình đài đã giữ một vai trò tiền đồn thiết yếu đối với Kinh thành. Có người đã cho rằng Trấn Bình đài là cái “yết hầu” liên quan đến sự mất còn của Kinh thành về mặt quân sự và chính trị.
Trấn Bình đài nằm sát ngoài góc đông bắc của Kinh thành và cũng được xây dựng theo kiểu Vauban. Mặt bằng của nó có hình lục giác không đều. Theo sử sách của triều Nguyễn, Trấn Bình đài có chu vi 1.048m, tường thành cao 5,10m, dày gần 15m, phòng lộ chạy dọc theo ngoài chân tường thành rộng khoảng 7,50m, hào chung quanh rộng 32m và sâu 4,25m. Vì công trình kiến trúc thành lũy này hoàn toàn mang tính quân sự, cho nên bên trong phạm vi của nó không hề xây dựng một cung điện hoặc một công trình kiến trúc văn hóa hay dân sự nào. Về mặt võ bị, có thể nói rằng Trấn Bình đài là cái pháo đài thứ 25 của Kinh thành Huế, hay nói đúng hơn, đây là một thành phụ của Kinh thành. Hai thành chính và thành phụ chỉ cách nhau một đoạn hào chung. Bên trong thành phụ này, ngày xưa đã xây những bệ cao để đặt 3 dàn súng đại bác, và tất nhiên cũng có kho đạn (hỏa dược khố), điếm canh (để lính túc trực).
Muốn đi vào căn cứ quân sự này, người ta phải dùng một trong hai cửa thành: Trấn Bình môn và Trường Định môn. Cả hai cửa đều thuộc loại “ám đạo” (poterne), nghĩa là những cửa chỉ trổ xuyên qua thân tường thành, chứ không xây vọng lâu ở bên trên.
Có điều đáng lưu ý là Trấn Bình môn không nằm ở phạm vi của Trấn Bình đài, mà lại nằm một vị trí thuộc vòng tường thành của Kinh thành. Cửa này đươc trổ ra ở giữa đoạn thành nối hai pháo đài Bắc Định và Đông Bình (của Kinh thành) lại với nhau. Ngay trước mặt cửa là một chiếc cầu xây bằng đá và gạch bắc qua hào, dùng để nối liền mạch giao thông giữa hai địa phận của thành chính và thành phụ. Hiện nay vẫn còn tấm biển bằng đá thanh khắc ba chữ “Trấn Bình môn” gắn ở phía trên của vòm cửa.
Còn cửa Trường Định thì được trổ ra ở giữa hông phía nam Trấn Bình đài. Cửa này có kích thước nhỏ hẹp hơn so với các cửa của Kinh thành; lối đi chỉ rộng 2m và vòm cửa chỉ cao 3m. Cửa này được dùng cho quân lính phòng thủ ở thành phụ đi ra ngoài thành để phản kích trên những đoạn thành giai ở chung quanh nó và lân cận thuộc mé đông thành chính.
Dọc theo mặt trong của vòng thành phụ, có tất cả 6 hệ thống bậc cấp dùng để đi lên thượng thành. Mỗi hệ thống bậc cấp rộng 3,35m.
Có một điều đáng lưu ý nữa ở đây là các tác giả của Trấn Bình đài đã không xây dựng tường thành ở 2 cạnh phía tây và tây nam của nó, vì 2 lý do: một là, 2 cạnh này không có chức năng phòng thủ; hai là cần có sự thông thoáng để quân lính trên thành chính có thể quan sát và chế ngự một cách dễ dàng những điều bất trắc có thể xảy ra bên trong thành phụ.
Trấn Bình đài được xây dựng cùng thời với Kinh thành. Lúc đầu (1805), nó cũng đươc đắp bằng đất đào từ hào lên. Sau đó, từ cuối thời Gia Long đến giữa thời Minh Mạng, hai mặt của nó cũng đều được xây ốp bằng gạch.
Khi qui hoạch và xây dựng hệ thống thành quách ở Huế vào đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long và các nhà kiến trúc bên cạnh nhà vua đã cân nhắc rất kỹ về vấn đề làm thêm cái thành phụ này ở sát nách Kinh thành. Tuy chỉ cách nhau bằng một đoạn hào chung, nhưng Trấn Binh đài cần thiết về mặt phòng thủ cho đến nỗi pháo đài Bắc Định ở góc đông bắc của thành chính không giữ thay được nhiệm vụ mà các nhà quân sự giao phó cho thành phụ này.
Bấy giờ, nếu có kẻ địch từ bên ngoài muốn tấn công Kinh thành thì phải đi bằng tàu thuyền vào hai cửa biển Thuận An và Tư Hiền, rồi ngược dòng sông Hương.Ở phía trước góc đông bắc của Kinh thành lại có đến hai nhánh của con sông ấy chĩa vào. Cần phải có thêm Trấn Bình đài để kiểm soát và chế ngự tất cả tàu thuyền lạ mặt xuất hiện trên hai nhánh sông đó, nhất là nhánh bên trái, nơi có giang cảng Bao Vinh tấp nập thương thuyền nội địa và quốc tế.
Khi mới lựa chọn vị trí và qui hoạch mặt bằng kiến trúc Kinh thành, có thể triều đình Gia Long đã muốn cho góc thành đó, tức là pháo đài Bắc Định, nằm càng gần khúc quẹo của đoạn sông Hương ở phía nam và tây nam làng Tiên Nộn càng tốt, cốt ý ngoài việc để cho chính Kinh thành kiểm soát trực tiếp thương cảng Bao Vinh, còn để cho hai mặt của góc thành đó được khúc sông uốn cong ấy che chở. Nhưng, muốn thiết lập một phần mặt bằng Kinh thành lên trên địa phận ấy thì, theo địa thế, mặt bằng tổng thể của tòa thành này sẽ có một hình dạng méo mó, không được tương đối vuông vức, cân xứng, và có thể mang một diện mạo khác, cũng như trục chính của nó có thể quay về một hướng khác so với những gì được hoạch định sau đó. Bởi vậy, cuối cùng, để bảo đảm tính thẩm mỹ và một số nguyên tắc kiến trúc của Kinh thành, các tác giả của nó đã quyết định xây thêm thành phụ Trấn Bình đài nằm doi ra ngoài góc đông bắc của thành chính.
Về danh xưng của cái thành phụ ấy, lúc đầu, dưới thời Gia Long, nó được đặt tên là Thái Bình đài. Và cái cửa từ Kinh thành đi qua đó được gọi là Thái Bình môn. Đến năm 1836, triều đình Minh Mạng đổi những tên ấy thành Trấn Bình đài và Trấn Bình môn. Nhưng, ngay từ khi mới xây dựng xong, cái thành phụ này đã được dân chúng địa phương gọi là “thành Mang Cá”, và sau đó thì gọi là “đồn Mang Cá”. Theo một nhà nghiên cứu người Pháp trước đây là Léopold Cadière thì sở dĩ nó được gọi như thế là vì bên trong phạm vi của thành này, có hai cái hồ nằm theo dạng chữ V trông giống như những cái mang của một con cá. Tuy nhiên, “mang cá” có lẽ là hình dạng tương tự của mặt bằng tổng thể tòa thành phụ này, vì đến khảo sát trên thực địa, không hề thấy dấu vết của hai cái hồ vừa nói.
Dù sao đi nữa, từ cuối thế kỷ XIX đến nay, người Huế cũng đã và đang sử dụng đến hai địa danh Mang Cá là Mang Cá Lớn và Mang Cá Nhỏ để chỉ hai địa phận khác nhau: một là phần đất Trấn Bình đài và hai là phần đất ở bên trong góc đông bắc của Kinh thành. Hai phần đất này đã bị triều đình nhà Nguyễn lần lượt nhường cho Pháp đóng quân từ hai thời điểm khác nhau: năm 1884 và năm 1886. Sự xuất hiện hai địa danh ấy liên quan đến một giai đoạn lịch sử.
Vì thấy rõ Trấn Bình đài là cái “cuốn họng” của Kinh thành, cho nên, trong quá trình xâm lấn chủ quyền của triều đình Huế, thực dân Pháp đã tìm cách chiếm hữu Trấn Bình đài kể từ sau vụ đánh chiếm Trấn Hải thành ở cửa biển Thuận An vào năm 1883. Một năm sau, vì yếu thế, triều đình nhà Nguyễn phải nhường Trấn Bình đài cho Pháp đóng quân theo tinh thần điều V của Hiệp ước Patenôtre (Giáp thân, 1884). Cho đến bây giờ, nó vẫn được gọi là “thành Mang Cá”. Nhưng, sau đó 2 năm (1886), Toàn quyền Paul Bert lại ép triều đình Đồng Khánh nhường thêm một khu đất ở bên trong góc đông bắc của Kinh thành để quân Pháp xây dựng thêm doanh trại, đồn bót, bệnh xá, nhà nguyện, v.v... Ngoài ra, họ còn xây một bức tường thành bằng đá và gạch khá cao để ngăn cách riêng biệt phần đất mà họ thủ đắc trong Thành Nội. Diện tích khu nhượng địa lần này lớn gấp bội phần so với lần trước. Do đó, để phân biệt sự khác nhau giữa hai địa phận ấy, nhân dân địa phương đã gọi Trấn Bình đài là Mang Cá Nhỏ và khu đất mới nhường thêm ở trong góc đông bắc của kinh thành là Mang Cá Lớn.
Nhìn chung về Trấn Bình đài, từ tổng thể đến các bộ phận kiến trúc, như cửa thành, mặt pháo đài, hông pháo đài, tường bắn, pháo nhãn, hào, phòng lộ, thành giai, kho đạn, điếm canh..., đều đã được hoạch định, tính toán và xây dựng một cách chu đáo, kỹ lưỡng và phù hợp với chức năng phòng vệ ở vị thế chiến lược hiểm yếu mà người ta giao phó cho nó. Do đó, trong một quyển sách của mình, tác giả Đào Trinh Nhất đã viết: “Trấn Bình đài là một nơi hiểm yếu của Kinh thành và rất có quan hệ về đường võ bị... Chỗ ấy có cái hình thế quanh co hiểm trở..., có đủ cả mọi sự cần dùng trong việc thủ thành và dụng võ. Triều đình ta lập ra chỗ đó để đóng quân, chứa khí giới, cốt để chống giữ Kinh thành, coi như là cuống họng của Kinh thành vậy”.
Trường Quốc Tử Giám (Huế)
Du Lịch Huế - Quốc Tử Giám là trường đại học tại Kinh đô Huế. Nguyên trường Quốc Tử Giám được thành lập lần đầu tiên ở nước ta từ năm 1076, dưới thời Lý. Ngay từ đầu nó đã có tên gọi là Quốc Tử Giám và từ đó về sau nó vẫn giữ nguyên vị trí ở kinh đô Thăng Long, trong khuôn viên Văn Miếu Hà Nội ngày nay.
Đến đầu triều Nguyễn, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đã quyết định xây dựng kinh đô tại Huế. Tháng 8 năm 1803, một trường học mang tính quốc gia đã được thành lập tại đây với tên gọi là Đốc Học Đường (hay Quốc Học Đường). Tháng 3 năm 1820, vua Minh Mạng đổi tên trường thành Quốc Tử Giám và tên này tồn tại mãi đến năm 1945 khi trường Quốc Tử Giám chấm dứt vai trò của mình cùng với sự sụp đổ của vương triều Nguyễn. Vị trí trước đây của Trường Quốc Tử Giám tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách Kinh thành Huế chừng 5km về phía tây (nay thuộc địa phận làng An Bình, giáp với làng Long Hồ Hạ, huyện Hương Trà). Trường nằm bên cạnh Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương nên cảnh vật rất hữu tình.
Dưới thời Gia Long, qui mô kiến trúc của trường còn nhỏ, chỉ gồm một tòa chính ở giữa và hai dãy nhà hai bên, dùng làm chỗ để quan Chánh, Phó Đốc Học giảng dạy. Sang thời Minh Mạng, qui mô của trường được phát triển to lớn hơn. Năm 1821, vua cho dựng tòa Di Luân Đường, một tòa giảng đường và hai dãy nhà học hai bên Di Luân Đường, mỗi dãy 19 gian phòng học, làm chỗ cho sinh viên đọc sách, làm bài. Đến đầu thời Tự Đức, Quốc Tử Giám đã khá bề thế nhưng trường vẫn tiếp tục được mở mang, xây cất. Năm 1848, xây thêm một tòa nhà 9 gian, xung quanh có tường gạch bao bọc và hai dãy cư xá, mỗi bên 2 gian cho sinh viên. Trường cũng mở thêm 2 cửa nhỏ hai bên để sinh viên tiện ra vào
Trường Quốc tử giám xưa
Lúc bấy giờ, cả nước chỉ có một trường đại học ở Kinh thành nên sinh viên qui tụ về đây rất đông. Vua Thiệu Trị đã xếp trường vào một trong 20 thắng cảnh của đất Kinh kỳ. Năm 1854, trong một lần tới thăm trường vua Tự Đức đã làm một bài văn và một bài thờ gồm 14 chương để răn dạy và khuyến khích sinh viên học hành. Toàn bộ trước tác này đã được khắc vào một tấm bia đá thanh lớn, dựng trước sân trường. Về sau, trường Quốc Tử Giám đã nhiều lần bị hư hỏng nặng do thiên tai, nhất là cơn bão năm Giáp Thìn (1904). Nhưng sau mỗi lần bị hư hỏng, trường đều được phục hồi.
Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành, bên ngoài, phía đông nam Hoàng thành (tức vị trí hiện nay). Qui mô của trường lúc ấy gồm có: chính giữa là Di Luân Đường; hai bên là hai dãy phòng học; trước mặt là hai dãy cư xá của sinh viên; phía sau trường, ở giữa là tòa Tân Thơ Viện, hai bên là nhà ở của quan Tế Tửu, Tư Nghiệp (hiệu trưởng, hiệu phó) và các viên chức khác của trường. Trong số các công trình kiến trúc này, Di Luân Đường, Tân Thơ Viện và tòa nhà dành cho vị Tế Tửu Quốc Tử Giám ở là những công trình kiến trúc gỗ theo phong cách truyền thống có giá trị nghệ thuật cao (Tân Thơ Viện, Di Luân Đường đều có nguồn gốc từ các công trình kiến trúc của Cung Bảo Định).
Năm 1923, Tân Thơ Viện trở thành Bảo Tàng Khải Định (Musée Khải Định) nên trường Quốc Tử Giám phải lập một thư viện mới mang tên Thư Viện Bảo Đại ở phía sau Di Luân Đường. Từ đó đến tháng 8 năm 1945, thời điểm Quốc Tử Giám chấm dứt vai trò lịch sử của mình, kiến trúc của trường hầu như không thay đổi.
Với gần 150 năm tồn tại, Quốc Tử Giám đã góp phần không nhỏ trong việc đào tạo những nhân tài cho đất nước. Trong số hơn 500 vị tiến sĩ, phó bảng của triều Nguyễn, có không ít vị đã từng dùi mài kinh sử tại ngôi trường này.
Quốc Tử Giám ở Huế, nay là Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, là di tích trường đại học duy nhất thời phong kiến còn tồn tại trên đất nước ta. Đây là một di tích lịch sử, văn hóa có giá trị rất cao. Ngày 11.12.1993, Quốc Tử Giám cùng với hệ thống di tích cung đình Nguyễn đã được ghi tên vào danh mục Di Sản Văn hóa Thế giới.
Đến đầu triều Nguyễn, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long đã quyết định xây dựng kinh đô tại Huế. Tháng 8 năm 1803, một trường học mang tính quốc gia đã được thành lập tại đây với tên gọi là Đốc Học Đường (hay Quốc Học Đường). Tháng 3 năm 1820, vua Minh Mạng đổi tên trường thành Quốc Tử Giám và tên này tồn tại mãi đến năm 1945 khi trường Quốc Tử Giám chấm dứt vai trò của mình cùng với sự sụp đổ của vương triều Nguyễn. Vị trí trước đây của Trường Quốc Tử Giám tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách Kinh thành Huế chừng 5km về phía tây (nay thuộc địa phận làng An Bình, giáp với làng Long Hồ Hạ, huyện Hương Trà). Trường nằm bên cạnh Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương nên cảnh vật rất hữu tình.
Dưới thời Gia Long, qui mô kiến trúc của trường còn nhỏ, chỉ gồm một tòa chính ở giữa và hai dãy nhà hai bên, dùng làm chỗ để quan Chánh, Phó Đốc Học giảng dạy. Sang thời Minh Mạng, qui mô của trường được phát triển to lớn hơn. Năm 1821, vua cho dựng tòa Di Luân Đường, một tòa giảng đường và hai dãy nhà học hai bên Di Luân Đường, mỗi dãy 19 gian phòng học, làm chỗ cho sinh viên đọc sách, làm bài. Đến đầu thời Tự Đức, Quốc Tử Giám đã khá bề thế nhưng trường vẫn tiếp tục được mở mang, xây cất. Năm 1848, xây thêm một tòa nhà 9 gian, xung quanh có tường gạch bao bọc và hai dãy cư xá, mỗi bên 2 gian cho sinh viên. Trường cũng mở thêm 2 cửa nhỏ hai bên để sinh viên tiện ra vào
Trường Quốc tử giám xưa
Lúc bấy giờ, cả nước chỉ có một trường đại học ở Kinh thành nên sinh viên qui tụ về đây rất đông. Vua Thiệu Trị đã xếp trường vào một trong 20 thắng cảnh của đất Kinh kỳ. Năm 1854, trong một lần tới thăm trường vua Tự Đức đã làm một bài văn và một bài thờ gồm 14 chương để răn dạy và khuyến khích sinh viên học hành. Toàn bộ trước tác này đã được khắc vào một tấm bia đá thanh lớn, dựng trước sân trường. Về sau, trường Quốc Tử Giám đã nhiều lần bị hư hỏng nặng do thiên tai, nhất là cơn bão năm Giáp Thìn (1904). Nhưng sau mỗi lần bị hư hỏng, trường đều được phục hồi.
Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành, bên ngoài, phía đông nam Hoàng thành (tức vị trí hiện nay). Qui mô của trường lúc ấy gồm có: chính giữa là Di Luân Đường; hai bên là hai dãy phòng học; trước mặt là hai dãy cư xá của sinh viên; phía sau trường, ở giữa là tòa Tân Thơ Viện, hai bên là nhà ở của quan Tế Tửu, Tư Nghiệp (hiệu trưởng, hiệu phó) và các viên chức khác của trường. Trong số các công trình kiến trúc này, Di Luân Đường, Tân Thơ Viện và tòa nhà dành cho vị Tế Tửu Quốc Tử Giám ở là những công trình kiến trúc gỗ theo phong cách truyền thống có giá trị nghệ thuật cao (Tân Thơ Viện, Di Luân Đường đều có nguồn gốc từ các công trình kiến trúc của Cung Bảo Định).
Năm 1923, Tân Thơ Viện trở thành Bảo Tàng Khải Định (Musée Khải Định) nên trường Quốc Tử Giám phải lập một thư viện mới mang tên Thư Viện Bảo Đại ở phía sau Di Luân Đường. Từ đó đến tháng 8 năm 1945, thời điểm Quốc Tử Giám chấm dứt vai trò lịch sử của mình, kiến trúc của trường hầu như không thay đổi.
Với gần 150 năm tồn tại, Quốc Tử Giám đã góp phần không nhỏ trong việc đào tạo những nhân tài cho đất nước. Trong số hơn 500 vị tiến sĩ, phó bảng của triều Nguyễn, có không ít vị đã từng dùi mài kinh sử tại ngôi trường này.
Quốc Tử Giám ở Huế, nay là Bảo tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, là di tích trường đại học duy nhất thời phong kiến còn tồn tại trên đất nước ta. Đây là một di tích lịch sử, văn hóa có giá trị rất cao. Ngày 11.12.1993, Quốc Tử Giám cùng với hệ thống di tích cung đình Nguyễn đã được ghi tên vào danh mục Di Sản Văn hóa Thế giới.
Thursday, April 30, 2015
Vạc đồng
Du Lịch Huế - Nói đến kĩ thuật và mĩ thuật đúc ở Huế, các nhà nghiên cứu không chỉ nhắc đến không chỉ có Cửu Đỉnh hay Cửu Vị Thần Công mà còn có những vạc đồng được đặt dọc theo điện Cần Chánh và một số nơi khác trong kinh thành Huế.
Vạc đồng là những di vật cổ bằng đồng có kích thước khá lớn, được đặt trước điện Cần Chánh và một số nơi khác trong Kinh thành Huế.
Theo tư liệu để lại thì từ năm 1631 đến năm 1684, chúa Nguyễn Phúc Chu và chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho đúc 11 chiếc vạc đồng, đến nay trong 11 chiếc này có đến 7 chiếc đặt tại hoàng cung, 3 chiếc đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, và một chiếc đặt tại Lăng Đồng Khánh. Tất cả những chiếc vạc trên đều có kích thước rất to lớn, từ vài trăm đến vài ngàn cân.Công việc đúc đồng chủ yếu là do Jean de la Croix, một người Bồ Đào Nha cùng những người thợ thủ công khéo tay của xứ Đàng Trong đảm trách. Croix đến Huế vào nửa đầu thế kỷ XVII, sống tại Phường Đúc (khu vực đối diện phía thượng nguồn chùa Thiên Mụ), lấy vợ người Việt và được xem là người sáng lập ra ngành đúc đồng nổi tiếng của vùng đất này. Trong vòng 25 năm, chúa Nguyễn Phúc Tần đã lệnh cho ông đúc rất nhiều vạc đồng và vũ khí. Mục đích của chúa Nguyễn khi cho đúc những chiếc vạc đồng này là để biểu dương uy quyền và sự bền vững của triều đại, đánh dấu những chiến thắng với quân Trịnh trong công cuộc mở mang lãnh thổ về phía nam.
Trong số những chiếc vạc đồng còn lại cho đến ngày nay thì đáng chú ý nhất là hai chiếc vạc đặt tại sân điện Càn Chánh. Đây là những chiếc vạc to nhất, nặng nhất và được trang trí đẹp hơn cả. Phần trang trí chính của vạc được chia thành 60 ô hộc chữ nhật bằng nhau ngăn cách bởi các nhóm vạch thẳng đứng. Mỗi ô đều có hoa văn riêng, bao gồm tinh tú, hoa lá, chim thú chạm khắc một cách công phu.

Vạc đồng thứ 11 bên hiên điện Long An
Những chiếc vạc đồng còn lại cho đến ngày nay thật sự là một tác phẩm nghệ thuật quí hiếm, thể hiện thành tựu và giá trị mỹ thuật đồ đồng độc đáo dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần.
Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thật sự, thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời. Trong số đó, 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời Minh Mạng.
Vạc đồng là những di vật cổ bằng đồng có kích thước khá lớn, được đặt trước điện Cần Chánh và một số nơi khác trong Kinh thành Huế.
Theo tư liệu để lại thì từ năm 1631 đến năm 1684, chúa Nguyễn Phúc Chu và chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho đúc 11 chiếc vạc đồng, đến nay trong 11 chiếc này có đến 7 chiếc đặt tại hoàng cung, 3 chiếc đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, và một chiếc đặt tại Lăng Đồng Khánh. Tất cả những chiếc vạc trên đều có kích thước rất to lớn, từ vài trăm đến vài ngàn cân.Công việc đúc đồng chủ yếu là do Jean de la Croix, một người Bồ Đào Nha cùng những người thợ thủ công khéo tay của xứ Đàng Trong đảm trách. Croix đến Huế vào nửa đầu thế kỷ XVII, sống tại Phường Đúc (khu vực đối diện phía thượng nguồn chùa Thiên Mụ), lấy vợ người Việt và được xem là người sáng lập ra ngành đúc đồng nổi tiếng của vùng đất này. Trong vòng 25 năm, chúa Nguyễn Phúc Tần đã lệnh cho ông đúc rất nhiều vạc đồng và vũ khí. Mục đích của chúa Nguyễn khi cho đúc những chiếc vạc đồng này là để biểu dương uy quyền và sự bền vững của triều đại, đánh dấu những chiến thắng với quân Trịnh trong công cuộc mở mang lãnh thổ về phía nam.
Trong số những chiếc vạc đồng còn lại cho đến ngày nay thì đáng chú ý nhất là hai chiếc vạc đặt tại sân điện Càn Chánh. Đây là những chiếc vạc to nhất, nặng nhất và được trang trí đẹp hơn cả. Phần trang trí chính của vạc được chia thành 60 ô hộc chữ nhật bằng nhau ngăn cách bởi các nhóm vạch thẳng đứng. Mỗi ô đều có hoa văn riêng, bao gồm tinh tú, hoa lá, chim thú chạm khắc một cách công phu.
Vạc đồng thứ 11 bên hiên điện Long An
Những chiếc vạc đồng còn lại cho đến ngày nay thật sự là một tác phẩm nghệ thuật quí hiếm, thể hiện thành tựu và giá trị mỹ thuật đồ đồng độc đáo dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần.
Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thật sự, thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời. Trong số đó, 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời Minh Mạng.
Tuesday, April 28, 2015
Chùa Từ Hiếu - nơi lưu dấu thời gian
Du Lịch Huế - Ở tây nam kinh thành Huế, cách Đàn Nam Giao khoảng 2km, cùng với chùa Thiên Mụ, chùa Từ Hiếu (thuộc làng Dương Xuân Thượng, P. Thủy Xuân, TP Huế) nằm trong những ngôi chùa cổ gắn bao thăng trầm đất cố đô.

Hồ bán nguyệt sau cổng tam quan của chùa - Ảnh: Hồng Trần
Chùa tọa lạc trên một khu đồi núi thấp khá bằng phẳng, phía trước cổng chùa là một khu đồi thông xanh mát, bên cạnh có một con suối nhỏ trong vắt quanh năm nước chảy tạo cho nơi đây phong cảnh trầm mặc, thanh tịnh đậm chất chốn thiền môn.
Bước qua cổng tam quan của chùa là một hồ bán nguyệt nước trong vắt phản chiếu bóng hình rêu phong cổ kính cùng từng đàn cá to tung tăng bơi lội... Tất cả, tạo nên một bức tranh phong thủy rất đỗi hữu tình.
Ngoài lịch sử lâu đời cùng với kiến trúc độc đáo mang đậm nét đặc trưng của vùng đất cố đô, chùa Từ Hiếu còn nổi tiếng khắp trong ngoài nước bởi nơi đây còn có một nghĩa trang độc nhất vô nhị - nơi chôn cất các quan thái giám của triều Nguyễn năm xưa.
Nằm cách chính điện khoảng 50m về phía bên trái của chùa Từ Hiếu chính là khu mộ địa của các quan thái giám với hơn 20 ngôi mộ được chia thành 3 dãy rõ rệt, phía trên mỗi bia mộ đều có khắc tên tuổi, quên quán, pháp danh, chức vụ và ngày mất của từng vị thái giám. Hằng năm, cứ đến ngày rằm tháng 11 âm lịch, nhà chùa lại đứng ra tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ đến công đức những người đã mất, trong đó có các quan thái giám triều Nguyễn có phần công đức tại chùa.

Phần mộ của những vị quan thái giám triều Nguyễn năm xưa được chôn cất trong khu “nghĩa trang thái giám” nằm trong khuôn viên chùa Từ Hiếu - Ảnh: Hồng Trần
Tiền thân của chùa Từ Hiếu là An Dưỡng Am được xây dựng do nhà sư Nhất Định - là một vị tăng uyên bác, thông tuệ nội điển được cả triều đình Huế kính nể lập lên từ khoảng đầu thế kỷ XIX để làm nơi tịnh tu. Đến năm 1843, dưới thời vua Thiệu Trị, quan thái giám Châu Phước Năng do ý thức và lo lắng rằng sau này khi mình nằm xuống do không có con nối dõi, bát hương sẽ nguội lạnh trong những ngày cúng giỗ nên đã đứng ra quyên tiền góp của để trùng tu xây dựng An Dưỡng Am thành một ngôi chùa khang trang với mong muốn sau này làm nơi yên nghỉ, hương khói.
Về sau, An Dưỡng Am được vua Tự Đức sắc phong “Sắc tứ Từ Hiếu Tự”, từ đó chùa chính thức có tên là Từ Hiếu và tất cả những thái giám trong triều Nguyễn có phần công đức tại chùa sau khi mất đều sẽ được nhà chùa mai táng, chôn cất và hương khói tại chùa trong những ngày cúng giỗ. Cũng chính vì lẽ đó nên ngoài tên gọi Từ Hiếu, chùa còn có các tên gọi khác như “chùa Thái giám” hay “chùa Hoạn quan”.

Chùa Từ Hiếu hiện nay là một điểm đến hấp dẫn của rất nhiều du khách trong và ngoài nước - Ảnh tư liệu
Trong chùa, một trong những nơi thờ tự trang trọng nhất chính là án thờ của Tả quân Lê Văn Duyệt (1763 - 1832) - một trong những vị tướng quân xuất sắc dưới thời vua Gia Long lập quốc. Ông không chỉ là một thái giám mà còn là một nhà quân sự tài ba, một nhà chính trị xuất chúng. Chỉ vì lòng ghen ghét, đố kỵ mà ông bị kết tội oan và bị san phẳng mộ dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1841). Mãi đến đời vua Thiệu Trị (1841 - 1847), ông mới được minh oan và được xây dựng lại mộ phần.
Sau này, cùng với Thái úy Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) đồng thời cũng là một thái giám, Lê Văn Duyệt được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ và được xem là một trong những bậc tiền hiền có công với đất nước, dân tộc.
Giờ mỗi khi đến Huế, sau khi đã dạo bước tham quan những lăng tẩm, đền đài, dạo chơi trên sông Hương núi Ngự, không ít du khách tìm đến tham quan chùa Từ Hiếu - nơi vẫn còn lưu dấu những nét kiến trúc đặc sắc của đất cố đô xưa. Một chút lắng lòng và cũng để hiểu hơn thân thế, phận đời của những vị thái giám từng phục vụ trong cung cấm năm xưa.
Theo HỒNG TRẦN
Hồ bán nguyệt sau cổng tam quan của chùa - Ảnh: Hồng Trần
Chùa tọa lạc trên một khu đồi núi thấp khá bằng phẳng, phía trước cổng chùa là một khu đồi thông xanh mát, bên cạnh có một con suối nhỏ trong vắt quanh năm nước chảy tạo cho nơi đây phong cảnh trầm mặc, thanh tịnh đậm chất chốn thiền môn.
Bước qua cổng tam quan của chùa là một hồ bán nguyệt nước trong vắt phản chiếu bóng hình rêu phong cổ kính cùng từng đàn cá to tung tăng bơi lội... Tất cả, tạo nên một bức tranh phong thủy rất đỗi hữu tình.
Ngoài lịch sử lâu đời cùng với kiến trúc độc đáo mang đậm nét đặc trưng của vùng đất cố đô, chùa Từ Hiếu còn nổi tiếng khắp trong ngoài nước bởi nơi đây còn có một nghĩa trang độc nhất vô nhị - nơi chôn cất các quan thái giám của triều Nguyễn năm xưa.
Nằm cách chính điện khoảng 50m về phía bên trái của chùa Từ Hiếu chính là khu mộ địa của các quan thái giám với hơn 20 ngôi mộ được chia thành 3 dãy rõ rệt, phía trên mỗi bia mộ đều có khắc tên tuổi, quên quán, pháp danh, chức vụ và ngày mất của từng vị thái giám. Hằng năm, cứ đến ngày rằm tháng 11 âm lịch, nhà chùa lại đứng ra tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ đến công đức những người đã mất, trong đó có các quan thái giám triều Nguyễn có phần công đức tại chùa.
Phần mộ của những vị quan thái giám triều Nguyễn năm xưa được chôn cất trong khu “nghĩa trang thái giám” nằm trong khuôn viên chùa Từ Hiếu - Ảnh: Hồng Trần
Tiền thân của chùa Từ Hiếu là An Dưỡng Am được xây dựng do nhà sư Nhất Định - là một vị tăng uyên bác, thông tuệ nội điển được cả triều đình Huế kính nể lập lên từ khoảng đầu thế kỷ XIX để làm nơi tịnh tu. Đến năm 1843, dưới thời vua Thiệu Trị, quan thái giám Châu Phước Năng do ý thức và lo lắng rằng sau này khi mình nằm xuống do không có con nối dõi, bát hương sẽ nguội lạnh trong những ngày cúng giỗ nên đã đứng ra quyên tiền góp của để trùng tu xây dựng An Dưỡng Am thành một ngôi chùa khang trang với mong muốn sau này làm nơi yên nghỉ, hương khói.
Về sau, An Dưỡng Am được vua Tự Đức sắc phong “Sắc tứ Từ Hiếu Tự”, từ đó chùa chính thức có tên là Từ Hiếu và tất cả những thái giám trong triều Nguyễn có phần công đức tại chùa sau khi mất đều sẽ được nhà chùa mai táng, chôn cất và hương khói tại chùa trong những ngày cúng giỗ. Cũng chính vì lẽ đó nên ngoài tên gọi Từ Hiếu, chùa còn có các tên gọi khác như “chùa Thái giám” hay “chùa Hoạn quan”.
Chùa Từ Hiếu hiện nay là một điểm đến hấp dẫn của rất nhiều du khách trong và ngoài nước - Ảnh tư liệu
Trong chùa, một trong những nơi thờ tự trang trọng nhất chính là án thờ của Tả quân Lê Văn Duyệt (1763 - 1832) - một trong những vị tướng quân xuất sắc dưới thời vua Gia Long lập quốc. Ông không chỉ là một thái giám mà còn là một nhà quân sự tài ba, một nhà chính trị xuất chúng. Chỉ vì lòng ghen ghét, đố kỵ mà ông bị kết tội oan và bị san phẳng mộ dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1841). Mãi đến đời vua Thiệu Trị (1841 - 1847), ông mới được minh oan và được xây dựng lại mộ phần.
Sau này, cùng với Thái úy Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) đồng thời cũng là một thái giám, Lê Văn Duyệt được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ và được xem là một trong những bậc tiền hiền có công với đất nước, dân tộc.
Giờ mỗi khi đến Huế, sau khi đã dạo bước tham quan những lăng tẩm, đền đài, dạo chơi trên sông Hương núi Ngự, không ít du khách tìm đến tham quan chùa Từ Hiếu - nơi vẫn còn lưu dấu những nét kiến trúc đặc sắc của đất cố đô xưa. Một chút lắng lòng và cũng để hiểu hơn thân thế, phận đời của những vị thái giám từng phục vụ trong cung cấm năm xưa.
Theo HỒNG TRẦN
Một di tích còn ít người biết
Du Lịch Huế - Tình cờ, trước thềm Xuân Nhâm Thìn, trong lúc dạo dọc hành lang trên trụ sở UBND tỉnh Thừa Thiên Huế trước cuộc họp bàn về Lễ Khai mạc Năm Du lịch quốc gia và Đêm Thơ Nguyên Tiêu, tôi chợt để ý đến căn nhà nhỏ giữa hai cây vông đồng cổ thụ cuối sân phía sau đang có người lo chuyện cúng tế. Có thể đây là di tích duy nhất còn lại của Dinh Phủ Doãn ngày xưa mà anh tôi đã có lần cho biết: “Trong Dinh Phủ Doãn có tấm bia đá ghi tên những nhà khoa bảng từng giữ chức Phủ Doãn các triều vua Nguyễn.”
Quả nhiên, trước căn nhà nhỏ ở nơi khuất vắng ít người để ý ấy, ông Nguyên Thông đang giúp mấy cán bộ văn phòng lo lễ cúng nhân năm mới sắp đến. Thật may là mặc dù hơn một thế kỷ qua, việc xây dựng các công trình trong khuôn viên này đã xáo trộn nhiều thứ, nhưng tấm bia cổ vẫn còn. Đối diện với tấm bia cổ là tấm bia mới dựng ngày 30 tháng 6 năm 1956, ghi rõ:
“Tại khuôn viên tỉnh lỵ Thừa Thiên, nguyên trước có lập hai miếu (một cái thờ văn ban, một cái thờ võ ban). Nhơn sự kiến thiết lại Tòa tỉnh trưởng nên phải làm chung lại một miếu để hiệp tự cho được trang hoành tráng lệ phụng thờ vĩnh viễn muôn năm. Huế ngày 30 tháng 6 năm 1956. Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên - Thị trưởng Đô thị Huế Hà Thúc Luyện.”(Nội dung trên có chữ Hán kèm theo.)

Tấm bia cổ, tuy bị nứt ở giữa, nhưng phần lớn chữ khắc còn đọc rõ. Bia có kích thước 60x45cm (không kể phần đỉnh và chân bia), được ghi chép từ năm Thành Thái thứ 11 đến năm Bảo Đại thứ 18, tương ứng với mỗi niên hiệu nhà vua là tên vị quan ngồi ghế Phủ Doãn (chức Tỉnh trưởng của một tỉnh khi tỉnh đó là kinh đô) hầu hết là những nhà khoa bảng có uy tín.
Nhiều nhà nghiên cứu Huế (trong đó có “chuyên gia” về Huế là Phan Thuận An) cũng chưa biết có di tích này. Ông Lê Quang Thái tỏ ra rất thích thú khi tôi dẫn ông vào cùng xem ngôi miếu với nhiều câu đối văn tự tiền nhân để lại. So với tòa ngang dãy dọc cao tầng trong trụ sở UBND tỉnh thì đây là một căn nhà nhỏ, thấp lè tè, cũ kỹ, nhưng thời ông Hà Thúc Luyện làm Thị trưởng thì một ngôi miếu xây thế này là “trang hoàng tráng lệ”. Miếu xây 3 gian, theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc” (hai nhà liền nhau chung máng nước ở giữa), phía trước còn xây một “am” thờ linh vật (Gọi là “am” nhưng cũng xây thành 3 gian có chiều dài bằng ngôi miếu). Là người thông thạo sử sách, ông Thái nói: “Dinh Phủ Doãn trước ở trong Thành Nội, cuối đường Trần Quốc Toản, năm 1899 mới dời sang đây… Ngày đó, phía sau Dinh chắc còn là vùng cây cối rậm rạp, nên các quan cho lập am thờ linh vật như thế.” Ông chỉ am thờ dựng sát với ranh giới lao Thừa Phủ, có hình “Ông Ba Mươi” trên bệ thờ. Ông đặc biệt chú ý đến những câu đối rất có ý nghĩa trong miếu, tuy một số chữ không còn nguyên vẹn…

Tôi cũng đã tìm đến nhà ông Nguyên Thông, người có nhiều hiểu biết về ngôi miếu trong Dinh Phủ Doãn xưa mà ông gọi là “Miếu Thổ Thần”. Ông đọc thuộc lòng 4 câu đối phía trước miếu:
Nhất niệm nhân dân tư chuẩn đức / Tam Xuân trở đậu nhạ tân hương.
Trung nghĩa thiên thu lưu chính khí / Anh linh vạn cổ sùng thần uy.
Và ông giải nghĩa câu thứ nhất với vẻ tâm đắc : “Muốn làm hướng về nhân dân lấy đức làm trọng”… Ông Thông, sau khi nói đến giá trị về “chữ nghĩa” tiền nhân để lại ở ngôi miếu này, đã bảo tôi: “Đó là tôi chưa nói đến tâm linh…” Một cán bộ từng làm việc ở UBND tỉnh cũng nói với tôi: “Ngôi miếu này thiêng lắm!...”
Trải qua nhiều năm không được tu sửa, ngôi miếu hiện đã xuống cấp nhiều mặt. Rất mừng là theo một nguồn tin đáng tin cậy, UBND tỉnh, đã có kế hoạch trùng tu ngôi miếu này khi mở thông con đường giữa khuôn viên Trụ sở UBND tỉnh với lao Thừa Phủ (hiện đang xây dựng Bệnh viện Quốc tế). Hy vọng tới lúc đó, ngôi miếu này, do ở “mặt tiền” mới, việc vào thăm và nghiên cứu di tích này sẽ thuận tiện hơn.
Theo Nguyễn Khắc Phê
Quả nhiên, trước căn nhà nhỏ ở nơi khuất vắng ít người để ý ấy, ông Nguyên Thông đang giúp mấy cán bộ văn phòng lo lễ cúng nhân năm mới sắp đến. Thật may là mặc dù hơn một thế kỷ qua, việc xây dựng các công trình trong khuôn viên này đã xáo trộn nhiều thứ, nhưng tấm bia cổ vẫn còn. Đối diện với tấm bia cổ là tấm bia mới dựng ngày 30 tháng 6 năm 1956, ghi rõ:
“Tại khuôn viên tỉnh lỵ Thừa Thiên, nguyên trước có lập hai miếu (một cái thờ văn ban, một cái thờ võ ban). Nhơn sự kiến thiết lại Tòa tỉnh trưởng nên phải làm chung lại một miếu để hiệp tự cho được trang hoành tráng lệ phụng thờ vĩnh viễn muôn năm. Huế ngày 30 tháng 6 năm 1956. Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên - Thị trưởng Đô thị Huế Hà Thúc Luyện.”(Nội dung trên có chữ Hán kèm theo.)
Tấm bia cổ, tuy bị nứt ở giữa, nhưng phần lớn chữ khắc còn đọc rõ. Bia có kích thước 60x45cm (không kể phần đỉnh và chân bia), được ghi chép từ năm Thành Thái thứ 11 đến năm Bảo Đại thứ 18, tương ứng với mỗi niên hiệu nhà vua là tên vị quan ngồi ghế Phủ Doãn (chức Tỉnh trưởng của một tỉnh khi tỉnh đó là kinh đô) hầu hết là những nhà khoa bảng có uy tín.
Nhiều nhà nghiên cứu Huế (trong đó có “chuyên gia” về Huế là Phan Thuận An) cũng chưa biết có di tích này. Ông Lê Quang Thái tỏ ra rất thích thú khi tôi dẫn ông vào cùng xem ngôi miếu với nhiều câu đối văn tự tiền nhân để lại. So với tòa ngang dãy dọc cao tầng trong trụ sở UBND tỉnh thì đây là một căn nhà nhỏ, thấp lè tè, cũ kỹ, nhưng thời ông Hà Thúc Luyện làm Thị trưởng thì một ngôi miếu xây thế này là “trang hoàng tráng lệ”. Miếu xây 3 gian, theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc” (hai nhà liền nhau chung máng nước ở giữa), phía trước còn xây một “am” thờ linh vật (Gọi là “am” nhưng cũng xây thành 3 gian có chiều dài bằng ngôi miếu). Là người thông thạo sử sách, ông Thái nói: “Dinh Phủ Doãn trước ở trong Thành Nội, cuối đường Trần Quốc Toản, năm 1899 mới dời sang đây… Ngày đó, phía sau Dinh chắc còn là vùng cây cối rậm rạp, nên các quan cho lập am thờ linh vật như thế.” Ông chỉ am thờ dựng sát với ranh giới lao Thừa Phủ, có hình “Ông Ba Mươi” trên bệ thờ. Ông đặc biệt chú ý đến những câu đối rất có ý nghĩa trong miếu, tuy một số chữ không còn nguyên vẹn…
Tôi cũng đã tìm đến nhà ông Nguyên Thông, người có nhiều hiểu biết về ngôi miếu trong Dinh Phủ Doãn xưa mà ông gọi là “Miếu Thổ Thần”. Ông đọc thuộc lòng 4 câu đối phía trước miếu:
Nhất niệm nhân dân tư chuẩn đức / Tam Xuân trở đậu nhạ tân hương.
Trung nghĩa thiên thu lưu chính khí / Anh linh vạn cổ sùng thần uy.
Và ông giải nghĩa câu thứ nhất với vẻ tâm đắc : “Muốn làm hướng về nhân dân lấy đức làm trọng”… Ông Thông, sau khi nói đến giá trị về “chữ nghĩa” tiền nhân để lại ở ngôi miếu này, đã bảo tôi: “Đó là tôi chưa nói đến tâm linh…” Một cán bộ từng làm việc ở UBND tỉnh cũng nói với tôi: “Ngôi miếu này thiêng lắm!...”
Trải qua nhiều năm không được tu sửa, ngôi miếu hiện đã xuống cấp nhiều mặt. Rất mừng là theo một nguồn tin đáng tin cậy, UBND tỉnh, đã có kế hoạch trùng tu ngôi miếu này khi mở thông con đường giữa khuôn viên Trụ sở UBND tỉnh với lao Thừa Phủ (hiện đang xây dựng Bệnh viện Quốc tế). Hy vọng tới lúc đó, ngôi miếu này, do ở “mặt tiền” mới, việc vào thăm và nghiên cứu di tích này sẽ thuận tiện hơn.
Theo Nguyễn Khắc Phê
Trường Cao đẳng Nghề du lịch Huế
Du Lịch Huế - Trường Cao đẳng Nghề du lịch Huế thuộc Bộ Văn hoá,Thể thao và Du lịch được thành lập theo quyết định số 1876/QĐ-BLĐTBXH ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Nghiệp vụ Du lịch Huế.

Trường Cao đẳng nghề du lịch Huế đào tạo nguồn nhân lực theo 3 trình độ: Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề trong các lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ bán hàng… Học viên sau khi tốt nghiệp đủ khả năng tìm được việc làm và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.

Trường phối hợp với các doanh nghiệp để đào tạo địa chỉ và nâng cao trình độ tay nghề của người lao động tiếp cận được với trình độ kỹ thuật của khu vực và thế giới.
Mục tiêu của trường là xây dựng Trường trở thành trung tâm đào tạo nghề du lịch chất lượng cao của miền Trung – Tây nguyên và là trung tâm thẩm định nghề du lịch.
Trường Cao đẳng nghề du lịch Huế đào tạo nguồn nhân lực theo 3 trình độ: Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề trong các lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ bán hàng… Học viên sau khi tốt nghiệp đủ khả năng tìm được việc làm và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.
Trường phối hợp với các doanh nghiệp để đào tạo địa chỉ và nâng cao trình độ tay nghề của người lao động tiếp cận được với trình độ kỹ thuật của khu vực và thế giới.
Mục tiêu của trường là xây dựng Trường trở thành trung tâm đào tạo nghề du lịch chất lượng cao của miền Trung – Tây nguyên và là trung tâm thẩm định nghề du lịch.
Monday, April 27, 2015
Phát hiện bia đá ghi dấu cảnh đẹp Huế
Du Lịch Huế - Hai tấm bia đá ghi dấu 1 trong 20 cảnh đẹp chốn Thần kinh (Thần kinh nhị thập cảnh) vừa được phát hiện ở cạnh suối nước nóng trong quá trình thi công hồ Tả Trạch thượng nguồn sông Hương (thuộc xã Dương Hòa, TX.Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế).
Theo chữ Hán trên bia nhỏ đọc được - tuy đã bị vỡ rời rạc - có thể xác định được đây là tấm bia ghi danh thắng cảnh Tây lãnh thang hoằng của vua Thiệu Trị. Còn tấm bia to, do nằm úp mặt chữ xuống dưới nên chưa đọc được, nhưng rất có khả năng là bia khắc toàn văn bài thơ Tây lãnh thang hoằng của vua Thiệu Trị. Cảnh đẹp này được vua Thiệu Trị xếp hạng thứ 20 trong Thần kinh nhị thập cảnh (tập thơ vịnh 20 cảnh đẹp ở kinh đô) và làm thơ ngợi ca cảnh đẹp khu vực suối nước nóng.
Một mảnh vỡ mặt trước của bia nhỏ còn chữ lãnh thang trong Tây lãnh thang hoằng- Ảnh: Tôn Thất Hộ
Sau khi tiếp nhận thông tin, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế đã giao cho Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế tiến hành khảo sát và có kế hoạch tiếp nhận bia đưa về bảo tàng nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và trưng bày. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc phát hiện bia Tây lãnh thang hoằng cùng với dấu tích của một hành cung dưới thời Nguyễn ở thượng nguồn sông Hương, sẽ mở ra hướng nghiên cứu về điểm di tích thắng cảnh này.
Theo Bùi Ngọc Long
Theo chữ Hán trên bia nhỏ đọc được - tuy đã bị vỡ rời rạc - có thể xác định được đây là tấm bia ghi danh thắng cảnh Tây lãnh thang hoằng của vua Thiệu Trị. Còn tấm bia to, do nằm úp mặt chữ xuống dưới nên chưa đọc được, nhưng rất có khả năng là bia khắc toàn văn bài thơ Tây lãnh thang hoằng của vua Thiệu Trị. Cảnh đẹp này được vua Thiệu Trị xếp hạng thứ 20 trong Thần kinh nhị thập cảnh (tập thơ vịnh 20 cảnh đẹp ở kinh đô) và làm thơ ngợi ca cảnh đẹp khu vực suối nước nóng.
Một mảnh vỡ mặt trước của bia nhỏ còn chữ lãnh thang trong Tây lãnh thang hoằng- Ảnh: Tôn Thất Hộ
Sau khi tiếp nhận thông tin, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế đã giao cho Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế tiến hành khảo sát và có kế hoạch tiếp nhận bia đưa về bảo tàng nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và trưng bày. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc phát hiện bia Tây lãnh thang hoằng cùng với dấu tích của một hành cung dưới thời Nguyễn ở thượng nguồn sông Hương, sẽ mở ra hướng nghiên cứu về điểm di tích thắng cảnh này.
Theo Bùi Ngọc Long
Quốc học Huế - mái trường nhuộm sắc anh đào
Du Lịch Huế - Ấn tượng luôn in đậm trong tâm trí học sinh Quốc học là một khoảng trời nhuộm hồng sắc điệp anh đào.
Bất cứ ai, dù mới chỉ một lần đến Huế hay đã trót nặng lòng với xứ mộng mơ này đều khó có thể cưỡng lại trước vẻ đẹp của nơi đây. Là cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ, Cố đô xưa… và không thể nhắc đến Quốc học Huế - niềm tự hào của người dân xứ Huế.

Quốc Học Huế (Trường THPT Chuyên Quốc Học Huế) được thành lập năm 1896 là một trong những ngôi trường lâu đời nhất Việt Nam. Nơi đây, biết bao bậc vĩ nhân, anh hùng của dân tộc đã học tập, lớp lớp học trò khôn lớn, trưởng thành đóng góp công sức lớn lao cho đất nước, cho dân tộc!
Ngôi trường vang tiếng không những vì bề dày lịch sử và chất lượng dạy học, mà còn vì vẻ đẹp cổ kính đầy kiêu hãnh với lối kiến trúc rất riêng, không giống với bất kỳ một ngôi trường nào khác trên đất nước này.

Bước chân qua cổng trường uy nghi, trang nghiêm, ta bắt gặp ngay tượng đài Nguyễn Tất Thành - người con ưu tú của Quốc học Huế năm nao được đặt trang trọng giữa sân trường để nhắc nhở bao thế hệ học trò nâng cao tinh thần hiếu học. Khuôn viên trường rộng rãi rợp bóng cây xanh mà dưới mỗi tán cây là hàng ghế đá – địa điểm học hành lý tưởng của teen Quốc Học. Còn gì thú vị hơn khi được ngồi đọc sách trên ghế đá, dưới những tán cây mát rượi trong không gian tĩnh lặng nghiêm trang của ngôi trường cổ. Nơi đây, còn có những bãi cỏ xanh mướt vốn là chốn hò hẹn những giờ ra chơi của teen Quốc học, tưởng tượng sau một giờ học căng thẳng, được thả hồn bay bổng trên đám cỏ ướt sương mai, mọi căng thẳng muộn phiền dường như tan biết tự lúc nào.
Trường Quốc học sở hữu những dãy nhà học rộng rãi, uy nghi được sơn lên bởi màu hồng nổi bật – màu mà nhiều học sinh Quốc học vẫn hay gọi là “màu mơ ước”. Những bức tường màu hồng được bao bọc trong những tán cổ thụ xanh um, như tấm lòng thầy cô che chở, bao bọc cho đứa trò nhỏ. Rồi từ màu hồng ấy, lớp lớp học sinh đã tự tin thực hiện những “màu hồng mơ ước” của riêng mình. Nối liền dãy nhà học là những hành lang dài hun hút, mà ở Huế, có nhiều lối đi nhỏ như thế. Những dãy hành lang ấy được bao kín chỉ trừ ra mấy ô cửa sổ, nên dẫu trời có đổ nắng to thì cũng chỉ có vài vạt nắng lung linh ngoài cửa lớp, chưa đủ sức tràn vào căn phòng mát dịu, mà sóng sánh bên cửa kính, đọng lại thành màu "nắng thủy tinh".
Nhưng có lẽ, ấn tượng luôn in đậm trong tâm trí học sinh Quốc học là một khoảng trời nhuộm hồng sắc điệp anh đào, loài hoa từ lâu đã trở thành một nét đặc trưng, một thứ gì đó như là “tâm hồn của Quốc Học”. Mỗi độ tháng 2 về, sân trường lại đầy cánh hoa rơi - những thảm hoa quét rồi lại rụng, vương vấn dưới chân đi khiến những mối tình học trò càng thêm thi vị. Mỗi khi hoa nở, cả ngôi trường bỗng sáng rực lên, quyến rũ lạ thường. Toàn bộ lá trên cây rụng hết nhường chỗ cho những chùm hoa phơn phớt nửa hồng, nửa tím, chen chúc nhau trên những cành khẳng khiu, tạo thành những chuỗi hoa dài và rơi lả tả trong những cơn gió. Những hôm mưa bụi rơi, cánh hoa càng thêm hư ảo, lắng cả trời bâng khuâng. Khi mới nở, hoa có màu tím nhạt rồi phai dần sang hồng rồi trắng, vì thế trên cây bao giờ cũng là hòa sắc của nhiều gam màu tươi tắn. Điệp anh đào như đã tô thêm cho vẻ đẹp cổ kính của Quốc học một tầng sương màu hồng đầy lãng mạn và ngọt ngào.

Không chỉ là niềm tự hào của mỗi học sinh từng gắn bó những năm tháng tươi đẹp mộng mơ nơi đây, Quốc học Huế với kiến trúc cổ kính cùng vẻ đẹp ngày một "mặn mà" theo năm tháng còn là điểm dừng chân không thể bỏ qua với bất kỳ du khách nào đến đất cố đô. Nếu một lần đến với xứ Huế, hãy ghé qua nơi đây, để được thả hồn lãng đãng trong không gian thi vị ấy, để mơ mộng về một thời trong sáng, ngây ngô…
Bất cứ ai, dù mới chỉ một lần đến Huế hay đã trót nặng lòng với xứ mộng mơ này đều khó có thể cưỡng lại trước vẻ đẹp của nơi đây. Là cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ, Cố đô xưa… và không thể nhắc đến Quốc học Huế - niềm tự hào của người dân xứ Huế.
Quốc Học Huế (Trường THPT Chuyên Quốc Học Huế) được thành lập năm 1896 là một trong những ngôi trường lâu đời nhất Việt Nam. Nơi đây, biết bao bậc vĩ nhân, anh hùng của dân tộc đã học tập, lớp lớp học trò khôn lớn, trưởng thành đóng góp công sức lớn lao cho đất nước, cho dân tộc!
Ngôi trường vang tiếng không những vì bề dày lịch sử và chất lượng dạy học, mà còn vì vẻ đẹp cổ kính đầy kiêu hãnh với lối kiến trúc rất riêng, không giống với bất kỳ một ngôi trường nào khác trên đất nước này.
Bước chân qua cổng trường uy nghi, trang nghiêm, ta bắt gặp ngay tượng đài Nguyễn Tất Thành - người con ưu tú của Quốc học Huế năm nao được đặt trang trọng giữa sân trường để nhắc nhở bao thế hệ học trò nâng cao tinh thần hiếu học. Khuôn viên trường rộng rãi rợp bóng cây xanh mà dưới mỗi tán cây là hàng ghế đá – địa điểm học hành lý tưởng của teen Quốc Học. Còn gì thú vị hơn khi được ngồi đọc sách trên ghế đá, dưới những tán cây mát rượi trong không gian tĩnh lặng nghiêm trang của ngôi trường cổ. Nơi đây, còn có những bãi cỏ xanh mướt vốn là chốn hò hẹn những giờ ra chơi của teen Quốc học, tưởng tượng sau một giờ học căng thẳng, được thả hồn bay bổng trên đám cỏ ướt sương mai, mọi căng thẳng muộn phiền dường như tan biết tự lúc nào.
Trường Quốc học sở hữu những dãy nhà học rộng rãi, uy nghi được sơn lên bởi màu hồng nổi bật – màu mà nhiều học sinh Quốc học vẫn hay gọi là “màu mơ ước”. Những bức tường màu hồng được bao bọc trong những tán cổ thụ xanh um, như tấm lòng thầy cô che chở, bao bọc cho đứa trò nhỏ. Rồi từ màu hồng ấy, lớp lớp học sinh đã tự tin thực hiện những “màu hồng mơ ước” của riêng mình. Nối liền dãy nhà học là những hành lang dài hun hút, mà ở Huế, có nhiều lối đi nhỏ như thế. Những dãy hành lang ấy được bao kín chỉ trừ ra mấy ô cửa sổ, nên dẫu trời có đổ nắng to thì cũng chỉ có vài vạt nắng lung linh ngoài cửa lớp, chưa đủ sức tràn vào căn phòng mát dịu, mà sóng sánh bên cửa kính, đọng lại thành màu "nắng thủy tinh".
Nhưng có lẽ, ấn tượng luôn in đậm trong tâm trí học sinh Quốc học là một khoảng trời nhuộm hồng sắc điệp anh đào, loài hoa từ lâu đã trở thành một nét đặc trưng, một thứ gì đó như là “tâm hồn của Quốc Học”. Mỗi độ tháng 2 về, sân trường lại đầy cánh hoa rơi - những thảm hoa quét rồi lại rụng, vương vấn dưới chân đi khiến những mối tình học trò càng thêm thi vị. Mỗi khi hoa nở, cả ngôi trường bỗng sáng rực lên, quyến rũ lạ thường. Toàn bộ lá trên cây rụng hết nhường chỗ cho những chùm hoa phơn phớt nửa hồng, nửa tím, chen chúc nhau trên những cành khẳng khiu, tạo thành những chuỗi hoa dài và rơi lả tả trong những cơn gió. Những hôm mưa bụi rơi, cánh hoa càng thêm hư ảo, lắng cả trời bâng khuâng. Khi mới nở, hoa có màu tím nhạt rồi phai dần sang hồng rồi trắng, vì thế trên cây bao giờ cũng là hòa sắc của nhiều gam màu tươi tắn. Điệp anh đào như đã tô thêm cho vẻ đẹp cổ kính của Quốc học một tầng sương màu hồng đầy lãng mạn và ngọt ngào.
Không chỉ là niềm tự hào của mỗi học sinh từng gắn bó những năm tháng tươi đẹp mộng mơ nơi đây, Quốc học Huế với kiến trúc cổ kính cùng vẻ đẹp ngày một "mặn mà" theo năm tháng còn là điểm dừng chân không thể bỏ qua với bất kỳ du khách nào đến đất cố đô. Nếu một lần đến với xứ Huế, hãy ghé qua nơi đây, để được thả hồn lãng đãng trong không gian thi vị ấy, để mơ mộng về một thời trong sáng, ngây ngô…
Đầm Cầu Hai - Thiên đường của Huế
Du Lịch Huế - Sẽ rất khó để lột tả hết vẻ đẹp của đầm Cầu Hai bằng lời, bởi thiên nhiên, cảnh vật và đời sống con người nơi đây dường như vượt quá xa những khái niệm, quy chuẩn về "vẻ đẹp". Đã rất, rất nhiều những nghệ sỹ nhiếp ảnh chuyên lẫn không chuyên đến nơi đây và "mang về" cho người xem những tấm ảnh tuyệt diệu. Tuy nhiên, đầm Cầu Hai vẫn còn nguyên đó những vẻ đẹp kỳ thú mà bất cứ ai cũng có thể khai thác. Hãy cùng đến và trải nghiệm nhé!

Ảnh chụp lúc 8h sáng tại cầu Tư Hiền, cách Huế 70km, cầu này bắc ngang qua đầm Cầu Hai
Đầm Cầu Hai là khu đầm lớn nhất trong hệ thống đầm của phá Tam Giang, chu vi lên đến hơn 100km, nằm ở phía Nam - trên địa phận huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Để đến được đây thì bạn có thể đi theo hai đường: một là từ ngã 3 sân bay Phú Bài, đi theo đường Phú Bài - Trường Hà hướng ra biển, gặp QL 49B rẽ phải khoảng 30km là cửa Tư Hiền, đó là nơi chụp đầm Cầu Hai đẹp nhất, hoặc là đi theo QL 1A từ Huế vào Đà Nẵng, đến khu vực Ga Cầu Hai sẽ thấy ngay bên trái là đầm Cầu Hai. Đi thêm khoảng 8km nữa là lại gặp QL 49B để rẽ trái vào cửa Tư Hiền được.

Đầm Cầu Hai ở cửa Tư Hiền
Khi đến với Đầm Cầu Hai bạn đừng quên sắm cho mình một chiếc máy ảnh nhé vì đây sẽ là một nơi lý tưởng để bạn trổ tài nhiếp ảnh của mình đấy. Lúc sáng tinh mơ, chiều nắng vàng, hoàng hôn, hoặc ngày mây vần vũ là thời điểm thích hợp để có những bức ảnh tuyệt vời đấy. Đừng lo vì mình đến không đúng thời điểm, trong thời gian chờ đợi bạn có thể mua thức ăn của dân và ăn trên đầm cũng là một trải nghiệm khá thú vị đấy, còn nếu bạn nào có nhu cầu ở lại thì có thể đi ven QL 1A hoặc sát biển, gần cửa Tư Hiền kiểu gì cũng có nhà nghỉ.
Một số địa điểm gợi ý để bạn chụp ảnh:
- Cửa Tư Hiền
- Khu ga Đá Bạc, Cầu Hai, Thừa Lưu
- Chùa Túy Vân (phía gần biển, cách cửa Tư Hiền khoảng 3km về phía Bắc)

Đầm Cầu Hai ở khu Đá Bạc - TG: haikeu, Hai_Nguyen

Sửa lưới trên Phá Tam Giang



Ảnh đoạt Huy chương vàng tại cuộc thi Triển lãm Quốc tế California Hoa Kỳ 11-2009

Ảnh chụp lúc 8h sáng tại cầu Tư Hiền, cách Huế 70km, cầu này bắc ngang qua đầm Cầu Hai
Đầm Cầu Hai là khu đầm lớn nhất trong hệ thống đầm của phá Tam Giang, chu vi lên đến hơn 100km, nằm ở phía Nam - trên địa phận huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Để đến được đây thì bạn có thể đi theo hai đường: một là từ ngã 3 sân bay Phú Bài, đi theo đường Phú Bài - Trường Hà hướng ra biển, gặp QL 49B rẽ phải khoảng 30km là cửa Tư Hiền, đó là nơi chụp đầm Cầu Hai đẹp nhất, hoặc là đi theo QL 1A từ Huế vào Đà Nẵng, đến khu vực Ga Cầu Hai sẽ thấy ngay bên trái là đầm Cầu Hai. Đi thêm khoảng 8km nữa là lại gặp QL 49B để rẽ trái vào cửa Tư Hiền được.
Đầm Cầu Hai ở cửa Tư Hiền
Khi đến với Đầm Cầu Hai bạn đừng quên sắm cho mình một chiếc máy ảnh nhé vì đây sẽ là một nơi lý tưởng để bạn trổ tài nhiếp ảnh của mình đấy. Lúc sáng tinh mơ, chiều nắng vàng, hoàng hôn, hoặc ngày mây vần vũ là thời điểm thích hợp để có những bức ảnh tuyệt vời đấy. Đừng lo vì mình đến không đúng thời điểm, trong thời gian chờ đợi bạn có thể mua thức ăn của dân và ăn trên đầm cũng là một trải nghiệm khá thú vị đấy, còn nếu bạn nào có nhu cầu ở lại thì có thể đi ven QL 1A hoặc sát biển, gần cửa Tư Hiền kiểu gì cũng có nhà nghỉ.
Một số địa điểm gợi ý để bạn chụp ảnh:
- Cửa Tư Hiền
- Khu ga Đá Bạc, Cầu Hai, Thừa Lưu
- Chùa Túy Vân (phía gần biển, cách cửa Tư Hiền khoảng 3km về phía Bắc)
Đầm Cầu Hai ở khu Đá Bạc - TG: haikeu, Hai_Nguyen
Sửa lưới trên Phá Tam Giang
Ảnh đoạt Huy chương vàng tại cuộc thi Triển lãm Quốc tế California Hoa Kỳ 11-2009
Subscribe to:
Posts (Atom)