Thursday, April 30, 2015

Vạc đồng

Du Lịch Huế - Nói đến kĩ thuật và mĩ thuật đúc ở Huế, các nhà nghiên cứu không chỉ nhắc đến không chỉ có Cửu Đỉnh hay Cửu Vị Thần Công mà còn có những vạc đồng được đặt dọc theo điện Cần Chánh và một số nơi khác trong kinh thành Huế.

Vạc đồng là những di vật cổ bằng đồng có kích thước khá lớn, được đặt trước điện Cần Chánh và một số nơi khác trong Kinh thành Huế.

Theo tư liệu để lại thì từ năm 1631 đến năm 1684, chúa Nguyễn Phúc Chu và chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho đúc 11 chiếc vạc đồng, đến nay trong 11 chiếc này có đến 7 chiếc đặt tại hoàng cung, 3 chiếc đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, và một chiếc đặt tại Lăng Đồng Khánh. Tất cả những chiếc vạc trên đều có kích thước rất to lớn, từ vài trăm đến vài ngàn cân.Công việc đúc đồng chủ yếu là do Jean de la Croix, một người Bồ Đào Nha cùng những người thợ thủ công khéo tay của xứ Đàng Trong đảm trách. Croix đến Huế vào nửa đầu thế kỷ XVII, sống tại Phường Đúc (khu vực đối diện phía thượng nguồn chùa Thiên Mụ), lấy vợ người Việt và được xem là người sáng lập ra ngành đúc đồng nổi tiếng của vùng đất này. Trong vòng 25 năm, chúa Nguyễn Phúc Tần đã lệnh cho ông đúc rất nhiều vạc đồng và vũ khí. Mục đích của chúa Nguyễn khi cho đúc những chiếc vạc đồng này là để biểu dương uy quyền và sự bền vững của triều đại, đánh dấu những chiến thắng với quân Trịnh trong công cuộc mở mang lãnh thổ về phía nam.

Trong số những chiếc vạc đồng còn lại cho đến ngày nay thì đáng chú ý nhất là hai chiếc vạc đặt tại sân điện Càn Chánh. Đây là những chiếc vạc to nhất, nặng nhất và được trang trí đẹp hơn cả. Phần trang trí chính của vạc được chia thành 60 ô hộc chữ nhật bằng nhau ngăn cách bởi các nhóm vạch thẳng đứng. Mỗi ô đều có hoa văn riêng, bao gồm tinh tú, hoa lá, chim thú chạm khắc một cách công phu.



Vạc đồng thứ 11 bên hiên điện Long An

Những chiếc vạc đồng còn lại cho đến ngày nay thật sự là một tác phẩm nghệ thuật quí hiếm, thể hiện thành tựu và giá trị mỹ thuật đồ đồng độc đáo dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần.

Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thật sự, thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời. Trong số đó, 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời Minh Mạng.

Tuesday, April 28, 2015

Chùa Từ Hiếu - nơi lưu dấu thời gian

Du Lịch Huế - Ở tây nam kinh thành Huế, cách Đàn Nam Giao khoảng 2km, cùng với chùa Thiên Mụ, chùa Từ Hiếu (thuộc làng Dương Xuân Thượng, P. Thủy Xuân, TP Huế) nằm trong những ngôi chùa cổ gắn bao thăng trầm đất cố đô.



Hồ bán nguyệt sau cổng tam quan của chùa - Ảnh: Hồng Trần

Chùa tọa lạc trên một khu đồi núi thấp khá bằng phẳng, phía trước cổng chùa là một khu đồi thông xanh mát, bên cạnh có một con suối nhỏ trong vắt quanh năm nước chảy tạo cho nơi đây phong cảnh trầm mặc, thanh tịnh đậm chất chốn thiền môn.

Bước qua cổng tam quan của chùa là một hồ bán nguyệt nước trong vắt phản chiếu bóng hình rêu phong cổ kính cùng từng đàn cá to tung tăng bơi lội... Tất cả, tạo nên một bức tranh phong thủy rất đỗi hữu tình.

Ngoài lịch sử lâu đời cùng với kiến trúc độc đáo mang đậm nét đặc trưng của vùng đất cố đô, chùa Từ Hiếu còn nổi tiếng khắp trong ngoài nước bởi nơi đây còn có một nghĩa trang độc nhất vô nhị - nơi chôn cất các quan thái giám của triều Nguyễn năm xưa.

Nằm cách chính điện khoảng 50m về phía bên trái của chùa Từ Hiếu chính là khu mộ địa của các quan thái giám với hơn 20 ngôi mộ được chia thành 3 dãy rõ rệt, phía trên mỗi bia mộ đều có khắc tên tuổi, quên quán, pháp danh, chức vụ và ngày mất của từng vị thái giám. Hằng năm, cứ đến ngày rằm tháng 11 âm lịch, nhà chùa lại đứng ra tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ đến công đức những người đã mất, trong đó có các quan thái giám triều Nguyễn có phần công đức tại chùa.



Phần mộ của những vị quan thái giám triều Nguyễn năm xưa được chôn cất trong khu “nghĩa trang thái giám” nằm trong khuôn viên chùa Từ Hiếu - Ảnh: Hồng Trần

Tiền thân của chùa Từ Hiếu là An Dưỡng Am được xây dựng do nhà sư Nhất Định - là một vị tăng uyên bác, thông tuệ nội điển được cả triều đình Huế kính nể lập lên từ khoảng đầu thế kỷ XIX để làm nơi tịnh tu. Đến năm 1843, dưới thời vua Thiệu Trị, quan thái giám Châu Phước Năng do ý thức và lo lắng rằng sau này khi mình nằm xuống do không có con nối dõi, bát hương sẽ nguội lạnh trong những ngày cúng giỗ nên đã đứng ra quyên tiền góp của để trùng tu xây dựng An Dưỡng Am thành một ngôi chùa khang trang với mong muốn sau này làm nơi yên nghỉ, hương khói.

Về sau, An Dưỡng Am được vua Tự Đức sắc phong “Sắc tứ Từ Hiếu Tự”, từ đó chùa chính thức có tên là Từ Hiếu và tất cả những thái giám trong triều Nguyễn có phần công đức tại chùa sau khi mất đều sẽ được nhà chùa mai táng, chôn cất và hương khói tại chùa trong những ngày cúng giỗ. Cũng chính vì lẽ đó nên ngoài tên gọi Từ Hiếu, chùa còn có các tên gọi khác như “chùa Thái giám” hay “chùa Hoạn quan”.



Chùa Từ Hiếu hiện nay là một điểm đến hấp dẫn của rất nhiều du khách trong và ngoài nước - Ảnh tư liệu

Trong chùa, một trong những nơi thờ tự trang trọng nhất chính là án thờ của Tả quân Lê Văn Duyệt (1763 - 1832) - một trong những vị tướng quân xuất sắc dưới thời vua Gia Long lập quốc. Ông không chỉ là một thái giám mà còn là một nhà quân sự tài ba, một nhà chính trị xuất chúng. Chỉ vì lòng ghen ghét, đố kỵ mà ông bị kết tội oan và bị san phẳng mộ dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1841). Mãi đến đời vua Thiệu Trị (1841 - 1847), ông mới được minh oan và được xây dựng lại mộ phần.

Sau này, cùng với Thái úy Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) đồng thời cũng là một thái giám, Lê Văn Duyệt được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ và được xem là một trong những bậc tiền hiền có công với đất nước, dân tộc.

Giờ mỗi khi đến Huế, sau khi đã dạo bước tham quan những lăng tẩm, đền đài, dạo chơi trên sông Hương núi Ngự, không ít du khách tìm đến tham quan chùa Từ Hiếu - nơi vẫn còn lưu dấu những nét kiến trúc đặc sắc của đất cố đô xưa. Một chút lắng lòng và cũng để hiểu hơn thân thế, phận đời của những vị thái giám từng phục vụ trong cung cấm năm xưa.

Theo HỒNG TRẦN

Một di tích còn ít người biết

Du Lịch Huế - Tình cờ, trước thềm Xuân Nhâm Thìn, trong lúc dạo dọc hành lang trên trụ sở UBND tỉnh Thừa Thiên Huế trước cuộc họp bàn về Lễ Khai mạc Năm Du lịch quốc gia và Đêm Thơ Nguyên Tiêu, tôi chợt để ý đến căn nhà nhỏ giữa hai cây vông đồng cổ thụ cuối sân phía sau đang có người lo chuyện cúng tế. Có thể đây là di tích duy nhất còn lại của Dinh Phủ Doãn ngày xưa mà anh tôi đã có lần cho biết: “Trong Dinh Phủ Doãn có tấm bia đá ghi tên những nhà khoa bảng từng giữ chức Phủ Doãn các triều vua Nguyễn.”

Quả nhiên, trước căn nhà nhỏ ở nơi khuất vắng ít người để ý ấy, ông Nguyên Thông đang giúp mấy cán bộ văn phòng lo lễ cúng nhân năm mới sắp đến. Thật may là mặc dù hơn một thế kỷ qua, việc xây dựng các công trình trong khuôn viên này đã xáo trộn nhiều thứ, nhưng tấm bia cổ vẫn còn. Đối diện với tấm bia cổ là tấm bia mới dựng ngày 30 tháng 6 năm 1956, ghi rõ:

“Tại khuôn viên tỉnh lỵ Thừa Thiên, nguyên trước có lập hai miếu (một cái thờ văn ban, một cái thờ võ ban). Nhơn sự kiến thiết lại Tòa tỉnh trưởng nên phải làm chung lại một miếu để hiệp tự cho được trang hoành tráng lệ phụng thờ vĩnh viễn muôn năm. Huế ngày 30 tháng 6 năm 1956. Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên - Thị trưởng Đô thị Huế Hà Thúc Luyện.”(Nội dung trên có chữ Hán kèm theo.)



Tấm bia cổ, tuy bị nứt ở giữa, nhưng phần lớn chữ khắc còn đọc rõ. Bia có kích thước 60x45cm (không kể phần đỉnh và chân bia), được ghi chép từ năm Thành Thái thứ 11 đến năm Bảo Đại thứ 18, tương ứng với mỗi niên hiệu nhà vua là tên vị quan ngồi ghế Phủ Doãn (chức Tỉnh trưởng của một tỉnh khi tỉnh đó là kinh đô) hầu hết là những nhà khoa bảng có uy tín.

Nhiều nhà nghiên cứu Huế (trong đó có “chuyên gia” về Huế là Phan Thuận An) cũng chưa biết có di tích này. Ông Lê Quang Thái tỏ ra rất thích thú khi tôi dẫn ông vào cùng xem ngôi miếu với nhiều câu đối văn tự tiền nhân để lại. So với tòa ngang dãy dọc cao tầng trong trụ sở UBND tỉnh thì đây là một căn nhà nhỏ, thấp lè tè, cũ kỹ, nhưng thời ông Hà Thúc Luyện làm Thị trưởng thì một ngôi miếu xây thế này là “trang hoàng tráng lệ”. Miếu xây 3 gian, theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc” (hai nhà liền nhau chung máng nước ở giữa), phía trước còn xây một “am” thờ linh vật (Gọi là “am” nhưng cũng xây thành 3 gian có chiều dài bằng ngôi miếu). Là người thông thạo sử sách, ông Thái nói: “Dinh Phủ Doãn trước ở trong Thành Nội, cuối đường Trần Quốc Toản, năm 1899 mới dời sang đây… Ngày đó, phía sau Dinh chắc còn là vùng cây cối rậm rạp, nên các quan cho lập am thờ linh vật như thế.” Ông chỉ am thờ dựng sát với ranh giới lao Thừa Phủ, có hình “Ông Ba Mươi” trên bệ thờ. Ông đặc biệt chú ý đến những câu đối rất có ý nghĩa trong miếu, tuy một số chữ không còn nguyên vẹn…



Tôi cũng đã tìm đến nhà ông Nguyên Thông, người có nhiều hiểu biết về ngôi miếu trong Dinh Phủ Doãn xưa mà ông gọi là “Miếu Thổ Thần”. Ông đọc thuộc lòng 4 câu đối phía trước miếu:

Nhất niệm nhân dân tư chuẩn đức / Tam Xuân trở đậu nhạ tân hương.

Trung nghĩa thiên thu lưu chính khí / Anh linh vạn cổ sùng thần uy.

Và ông giải nghĩa câu thứ nhất với vẻ tâm đắc : “Muốn làm hướng về nhân dân lấy đức làm trọng”… Ông Thông, sau khi nói đến giá trị về “chữ nghĩa” tiền nhân để lại ở ngôi miếu này, đã bảo tôi: “Đó là tôi chưa nói đến tâm linh…” Một cán bộ từng làm việc ở UBND tỉnh cũng nói với tôi: “Ngôi miếu này thiêng lắm!...”

Trải qua nhiều năm không được tu sửa, ngôi miếu hiện đã xuống cấp nhiều mặt. Rất mừng là theo một nguồn tin đáng tin cậy, UBND tỉnh, đã có kế hoạch trùng tu ngôi miếu này khi mở thông con đường giữa khuôn viên Trụ sở UBND tỉnh với lao Thừa Phủ (hiện đang xây dựng Bệnh viện Quốc tế). Hy vọng tới lúc đó, ngôi miếu này, do ở “mặt tiền” mới, việc vào thăm và nghiên cứu di tích này sẽ thuận tiện hơn.
Theo Nguyễn Khắc Phê

Trường Cao đẳng Nghề du lịch Huế

Du Lịch Huế - Trường Cao đẳng Nghề du lịch Huế thuộc Bộ Văn hoá,Thể thao và Du lịch được thành lập theo quyết định số 1876/QĐ-BLĐTBXH ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Nghiệp vụ Du lịch Huế.



Trường Cao đẳng nghề du lịch Huế đào tạo nguồn nhân lực theo 3 trình độ: Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề trong các lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ bán hàng… Học viên sau khi tốt nghiệp đủ khả năng tìm được việc làm và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp.



Trường phối hợp với các doanh nghiệp để đào tạo địa chỉ và nâng cao trình độ tay nghề của người lao động tiếp cận được với trình độ kỹ thuật của khu vực và thế giới.

Mục tiêu của trường là xây dựng Trường trở thành trung tâm đào tạo nghề du lịch chất lượng cao của miền Trung – Tây nguyên và là trung tâm thẩm định nghề du lịch.

Monday, April 27, 2015

Phát hiện bia đá ghi dấu cảnh đẹp Huế

Du Lịch Huế - Hai tấm bia đá ghi dấu 1 trong 20 cảnh đẹp chốn Thần kinh (Thần kinh nhị thập cảnh) vừa được phát hiện ở cạnh suối nước nóng trong quá trình thi công hồ Tả Trạch thượng nguồn sông Hương (thuộc xã Dương Hòa, TX.Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế).

Theo chữ Hán trên bia nhỏ đọc được - tuy đã bị vỡ rời rạc - có thể xác định được đây là tấm bia ghi danh thắng cảnh Tây lãnh thang hoằng của vua Thiệu Trị. Còn tấm bia to, do nằm úp mặt chữ xuống dưới nên chưa đọc được, nhưng rất có khả năng là bia khắc toàn văn bài thơ Tây lãnh thang hoằng của vua Thiệu Trị. Cảnh đẹp này được vua Thiệu Trị xếp hạng thứ 20 trong Thần kinh nhị thập cảnh (tập thơ vịnh 20 cảnh đẹp ở kinh đô) và làm thơ ngợi ca cảnh đẹp khu vực suối nước nóng.

Một mảnh vỡ mặt trước của bia nhỏ còn chữ lãnh thang trong Tây lãnh thang hoằng- Ảnh: Tôn Thất Hộ

Sau khi tiếp nhận thông tin, Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế đã giao cho Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế tiến hành khảo sát và có kế hoạch tiếp nhận bia đưa về bảo tàng nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và trưng bày. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc phát hiện bia Tây lãnh thang hoằng cùng với dấu tích của một hành cung dưới thời Nguyễn ở thượng nguồn sông Hương, sẽ mở ra hướng nghiên cứu về điểm di tích thắng cảnh này.

Theo Bùi Ngọc Long

Quốc học Huế - mái trường nhuộm sắc anh đào

Du Lịch Huế - Ấn tượng luôn in đậm trong tâm trí học sinh Quốc học là một khoảng trời nhuộm hồng sắc điệp anh đào.
Bất cứ ai, dù mới chỉ một lần đến Huế hay đã trót nặng lòng với xứ mộng mơ này đều khó có thể cưỡng lại trước vẻ đẹp của nơi đây. Là cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ, Cố đô xưa… và không thể nhắc đến Quốc học Huế - niềm tự hào của người dân xứ Huế.



Quốc Học Huế (Trường THPT Chuyên Quốc Học Huế) được thành lập năm 1896 là một trong những ngôi trường lâu đời nhất Việt Nam. Nơi đây, biết bao bậc vĩ nhân, anh hùng của dân tộc đã học tập, lớp lớp học trò khôn lớn, trưởng thành đóng góp công sức lớn lao cho đất nước, cho dân tộc!

Ngôi trường vang tiếng không những vì bề dày lịch sử và chất lượng dạy học, mà còn vì vẻ đẹp cổ kính đầy kiêu hãnh với lối kiến trúc rất riêng, không giống với bất kỳ một ngôi trường nào khác trên đất nước này.



Bước chân qua cổng trường uy nghi, trang nghiêm, ta bắt gặp ngay tượng đài Nguyễn Tất Thành - người con ưu tú của Quốc học Huế năm nao được đặt trang trọng giữa sân trường để nhắc nhở bao thế hệ học trò nâng cao tinh thần hiếu học. Khuôn viên trường rộng rãi rợp bóng cây xanh mà dưới mỗi tán cây là hàng ghế đá – địa điểm học hành lý tưởng của teen Quốc Học. Còn gì thú vị hơn khi được ngồi đọc sách trên ghế đá, dưới những tán cây mát rượi trong không gian tĩnh lặng nghiêm trang của ngôi trường cổ. Nơi đây, còn có những bãi cỏ xanh mướt vốn là chốn hò hẹn những giờ ra chơi của teen Quốc học, tưởng tượng sau một giờ học căng thẳng, được thả hồn bay bổng trên đám cỏ ướt sương mai, mọi căng thẳng muộn phiền dường như tan biết tự lúc nào.

Trường Quốc học sở hữu những dãy nhà học rộng rãi, uy nghi được sơn lên bởi màu hồng nổi bật – màu mà nhiều học sinh Quốc học vẫn hay gọi là “màu mơ ước”. Những bức tường màu hồng được bao bọc trong những tán cổ thụ xanh um, như tấm lòng thầy cô che chở, bao bọc cho đứa trò nhỏ. Rồi từ màu hồng ấy, lớp lớp học sinh đã tự tin thực hiện những “màu hồng mơ ước” của riêng mình. Nối liền dãy nhà học là những hành lang dài hun hút, mà ở Huế, có nhiều lối đi nhỏ như thế. Những dãy hành lang ấy được bao kín chỉ trừ ra mấy ô cửa sổ, nên dẫu trời có đổ nắng to thì cũng chỉ có vài vạt nắng lung linh ngoài cửa lớp, chưa đủ sức tràn vào căn phòng mát dịu, mà sóng sánh bên cửa kính, đọng lại thành màu "nắng thủy tinh".

Nhưng có lẽ, ấn tượng luôn in đậm trong tâm trí học sinh Quốc học là một khoảng trời nhuộm hồng sắc điệp anh đào, loài hoa từ lâu đã trở thành một nét đặc trưng, một thứ gì đó như là “tâm hồn của Quốc Học”. Mỗi độ tháng 2 về, sân trường lại đầy cánh hoa rơi - những thảm hoa quét rồi lại rụng, vương vấn dưới chân đi khiến những mối tình học trò càng thêm thi vị. Mỗi khi hoa nở, cả ngôi trường bỗng sáng rực lên, quyến rũ lạ thường. Toàn bộ lá trên cây rụng hết nhường chỗ cho những chùm hoa phơn phớt nửa hồng, nửa tím, chen chúc nhau trên những cành khẳng khiu, tạo thành những chuỗi hoa dài và rơi lả tả trong những cơn gió. Những hôm mưa bụi rơi, cánh hoa càng thêm hư ảo, lắng cả trời bâng khuâng. Khi mới nở, hoa có màu tím nhạt rồi phai dần sang hồng rồi trắng, vì thế trên cây bao giờ cũng là hòa sắc của nhiều gam màu tươi tắn. Điệp anh đào như đã tô thêm cho vẻ đẹp cổ kính của Quốc học một tầng sương màu hồng đầy lãng mạn và ngọt ngào.



Không chỉ là niềm tự hào của mỗi học sinh từng gắn bó những năm tháng tươi đẹp mộng mơ nơi đây, Quốc học Huế với kiến trúc cổ kính cùng vẻ đẹp ngày một "mặn mà" theo năm tháng còn là điểm dừng chân không thể bỏ qua với bất kỳ du khách nào đến đất cố đô. Nếu một lần đến với xứ Huế, hãy ghé qua nơi đây, để được thả hồn lãng đãng trong không gian thi vị ấy, để mơ mộng về một thời trong sáng, ngây ngô…

Đầm Cầu Hai - Thiên đường của Huế

Du Lịch Huế - Sẽ rất khó để lột tả hết vẻ đẹp của đầm Cầu Hai bằng lời, bởi thiên nhiên, cảnh vật và đời sống con người nơi đây dường như vượt quá xa những khái niệm, quy chuẩn về "vẻ đẹp". Đã rất, rất nhiều những nghệ sỹ nhiếp ảnh chuyên lẫn không chuyên đến nơi đây và "mang về" cho người xem những tấm ảnh tuyệt diệu. Tuy nhiên, đầm Cầu Hai vẫn còn nguyên đó những vẻ đẹp kỳ thú mà bất cứ ai cũng có thể khai thác. Hãy cùng đến và trải nghiệm nhé!



Ảnh chụp lúc 8h sáng tại cầu Tư Hiền, cách Huế 70km, cầu này bắc ngang qua đầm Cầu Hai

Đầm Cầu Hai là khu đầm lớn nhất trong hệ thống đầm của phá Tam Giang, chu vi lên đến hơn 100km, nằm ở phía Nam - trên địa phận huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Để đến được đây thì bạn có thể đi theo hai đường: một là từ ngã 3 sân bay Phú Bài, đi theo đường Phú Bài - Trường Hà hướng ra biển, gặp QL 49B rẽ phải khoảng 30km là cửa Tư Hiền, đó là nơi chụp đầm Cầu Hai đẹp nhất, hoặc là đi theo QL 1A từ Huế vào Đà Nẵng, đến khu vực Ga Cầu Hai sẽ thấy ngay bên trái là đầm Cầu Hai. Đi thêm khoảng 8km nữa là lại gặp QL 49B để rẽ trái vào cửa Tư Hiền được.



Đầm Cầu Hai ở cửa Tư Hiền

Khi đến với Đầm Cầu Hai bạn đừng quên sắm cho mình một chiếc máy ảnh nhé vì đây sẽ là một nơi lý tưởng để bạn trổ tài nhiếp ảnh của mình đấy. Lúc sáng tinh mơ, chiều nắng vàng, hoàng hôn, hoặc ngày mây vần vũ là thời điểm thích hợp để có những bức ảnh tuyệt vời đấy. Đừng lo vì mình đến không đúng thời điểm, trong thời gian chờ đợi bạn có thể mua thức ăn của dân và ăn trên đầm cũng là một trải nghiệm khá thú vị đấy, còn nếu bạn nào có nhu cầu ở lại thì có thể đi ven QL 1A hoặc sát biển, gần cửa Tư Hiền kiểu gì cũng có nhà nghỉ.

Một số địa điểm gợi ý để bạn chụp ảnh:

- Cửa Tư Hiền
- Khu ga Đá Bạc, Cầu Hai, Thừa Lưu
- Chùa Túy Vân (phía gần biển, cách cửa Tư Hiền khoảng 3km về phía Bắc)



Đầm Cầu Hai ở khu Đá Bạc - TG: haikeu, Hai_Nguyen



Sửa lưới trên Phá Tam Giang







Ảnh đoạt Huy chương vàng tại cuộc thi Triển lãm Quốc tế California Hoa Kỳ 11-2009